PDA

View Full Version : Thơ, luật, và vần



tkv
12-19-2007, 05:26 PM
Xin chào các bạn của Tinh cầu không tên
Thực tình mà nói TKV post cái tài liệu nầy mà trong lòng ngại quá vì người post luật thơ mà mần thơ trật luật. Tuy nhiên, đây là một tài liệu có giá trị về văn học không vì tự ái cá nhân mà TKV ém nó cho nên TKV để vào đây cho những ai đang tập tành làm thơ hay hứng thú về thơ phú mà tham khảo
Nói trước àh nha các bạn có đọc những tài liệu của TKV post ở đây thì cứ theo tác giả chứ đừng lấy TKV ra mà làm ví dụ thì hư ráng chịu nha
Người ta làm thi phú còn TKV làm thơ phù, người ta làm thơ tình lãng mạng thì TKV làm thơ tình lãng xẹt cho nên mà nói đừng có lấy TKV ra làm gương nha
hư hết ah
vài dòng cởi mở mong các bạn hiểu cho
Thân

Thi Luật

Để giúp các bạn trẻ thông hiểu những cái hay, cái đẹp của thi ca Việt Nam, đặc biệt là thơ mới, Non Sông xin cống hiến các bạn một bài viết ngắn tóm lược quy luật của những thể thơ phổ thông VN. Hy vọng nhờ đó mà các bạn có thể sáng tác và cùng góp tay giúp duy trì văn hóa Việt. Nhiều tin liệu quý báu trong đây được dẫn từ hai quyển sách Luật thơ Mới và Tiếng Việt Tuyệt Vời. Non Sông chân thành cảm ơn các vị tác giả.

__________________________________________________ ___________________
Sự phối trí thanh và âm

Loại thanh ________________ Tên các thanh __________ Dấu chỉ thanh
Bằng _________________ phù bình thanh
_________________ trầm thượng thanh ________ không có dấu dấu huyền
Trắc _________________ phù thương thanh _____ ngã (~)
_________________ trầm thương thanh ________ hỏi (?)
_________________ phù khứ thanh ___________ sắc (')
_________________ trầm khứ thanh ___________ nặng (.)
_________________ phù nhập thanh __________ sắc (')
_________________ Trầm nhập thanh __________ nặng (.)
__________________________________________________ ___________________

Bình là bằng phẳng, đều đều, bình thường; trắc là nghiêng lệch. Âm thanh đang ở mức bình thường (bình thanh) chợt bổng lên cao hay đổ xuống thấp hơn (trắc thanh).

Nếu lựa từ sao cho có âm và thanh tương hợp thì khi đọc lên sẽ nghe êm tai, ta gọi lời văn có vần. Hai tiếng vần với nhau khi có âm tương tự và có cùng thanh (hoặc là cùng bình thanh hoặc là cùng trắc thanh). Trong thơ, vấn đề hợp vần là điều cốt yếu. Sự phối trí âm thanh nhịp điệu là yếu tố cơ bản của thơ.

1. Vần có 2 thứ:

a. bình: những chữ không dấu hoặc dấu huyền — hai, hài

b. trắc: những chữ có dấu hỏi, ngã, sắc, nặng — hải, hãi, hái, hại

Tiếng bình không vần với tiếng trắc: hai không vần với hải.

Cùng trông mà lại cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh nhữngmấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng, ý thiếp, ai sầu hơn ai?

Những tiếng "thấy", "mấy" cùng phát ra một âm "ây" cùng gieo trắc thanh. Những tiếng "dâu", "màu", "sầu" có âm "âu" và "au" tương tự, cùng gieo bình thanh. Tất cả từng cặp một như thế gọi là vần với nhau.

2. Vần thể giàu hay nghèo:

a. vần giàu: những tiếng có cùng âm và thanh
Phương, sương, cường, trường — vần trắc giàu
Thánh, cảnh, lãnh, ánh — vần bằng giàu

b. vần nghèo: đồng thanh nhưng với âm tương tự
Minh, khanh, huỳnh, hoành — vần bằng nghèo
Mến, lẽn, quyện, hển — vần trắc nghèo

3. Trong thơ Việt, có 2 cách gieo vần

a. Gieo vần ở giữa câu:
Tiếng cuối của câu trên vần với một tiếng nằm bên trong câu dưới. Như trong thể thơ lục bát, tiếng cuối câu lục vần với tiếng 6 câu bát theo sau.

Người đâu gặp gỡ làm chi
Trăm năm biết có duyên gì hay không.

Nguyễn Du

b. Gieo vần ở cuối câu:
Các tiếng cuối câu vần với nhau.

Vần tiếp: các cặp trắc bằng xen kẽ tiếp nhau

Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm,
Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,
Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối.
Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối;
Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành;
Mây theo chim về dãy núi xa xanh
Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ.
Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.

Xuân Diệu

Vần chéo: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1 vần với câu 3 và tiếng cuối câu 2 vần với câu 4.

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Vũ Ðình Liên

Nhiều khi chỉ cần tiếng cuối câu 2 vần với câu 4 thôi.

Xa quá rồi em người mỗi ngả
Bên này đất nước nhớ thương nhau
Em đi áo mỏng buông hờn tủi
Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

Quang Dũng

Vần ôm: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1 vần với câu 4 và tiếng cuối câu 2 vần với câu 3. Vần trắc ôm vần bằng, hay ngược lại.

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Nguyên Sa

Vần ba tiếng: Trong thi đoạn bốn câu, tiếng cuối câu 1, 2 và 4 vần với nhau. Câu 3 khác vần.

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

tác giả: Thâm Tâm

tkv
12-19-2007, 05:33 PM
Lời bình

Theo như TKV nghĩ một bài thơ được kết cấu không chỉ luật hay cái tài mà ông trời phú cho bạn mà nó bắt nguồn từ cảm xúc . Từ cảm xúc cộng thêm cái tài thơ phú và được dựa trên thi luật thì bài thơ ấy sẽ đi vào lòng người như một tác phẩm vĩnh cữu các bạn có nghĩ như vậy không ? đối với những bạn thích thơ mà lại không có cái tài thơ phú như TKV đây thì cảm xúc vẫn là điều chủ yếu để mình tự sáng tác 1 đoạn thơ. Từ những tài liệu trên TKV đã sơ lược lại trong 5 câu sau để gọi là 1 bài thơ
Thơ bao gồm:

Cú (cú pháp hay thể loại)
Vần (như trắc bằng)
Âm (gia điệu mà có những tiếc tấu như là âm hưởng)
Sắc ( màu sắc trong thơ)
Hình (hình ảnh trong thơ)

Cú pháp hay thể loại

có thể ở đây có chút confuse về ý của nó nhưng mình sẽ tranh thủ giải thích cụ thể hơn Thông thường thì cú pháp thừơng đặc nặng trên kết cấu của bài thơ chẳng hạn như mở bài thân bài và kết luận. Nhưng phần cú pháp lại liên quan rất mật thiết đến thể loại vì thế khi viết một bài thơ tuy là từ cảm xúc nhưng chúng ta đừng quên điều nầy ví dụ như chúng ta nghe 1 đoạn nhạc hay và nó làm cho chúng ta cảm thấy thích thì chẳng qua điệu nhạc va lời nhạc nó hài hoà với nhau bởi một âm điệu mà mình đang thích cộng theo ý nghĩa của đoạn nhạc lại trùng hợp với cái cảm xúc của mình cho nên bản nhạc ai trở nên hay đối với mình. Một bài thơ cũng vậy nếu như nó được hài hòa từ cú pháp đến trình tự lẫn âm hưởng tiết tấu trong câu cho đến cảm xúc thì bài thơ ấy sẽ là 1 bài thơ hay

Thể loại:

Vần: (phụ mục)
Trắc: ngã hỏi sắc nặng
Bằng: Không có dấu hay dấu huyền

Thơ lục bát (để cho dể nhớ)
bằng bằng trắc trắc bằng bằng
1 2 3 4 5 6 (vần)
bằng bằng trắc trắc bằng bằng trắc/bằng bằng
1 2 3 4 5 6 (vần) 7 8

Thơ song thất lục bát (gồm 2 câu 7 chử và 2 câu lục bát)

Bằng trắc trắc bằng bằng trắc trắc
1 2 3 4 5 6 7
Trắc trắc bằng bằng trắc bằng bằng
1 2 3 4 5 6 7

Thơ bốn chử

Trắc trắc bằng bằng
1 2 3 4
Trắc bằng trắc bằng
1 2 3 4

Thơ năm chử
Cũng giống như thơ 4 chử, nếu tiếng thứ 2 trắc thì tiếng thứ 4 là bằng
hay ngược lai. tuy nhiên trong thơ năm chử có phần đặc biệt về cách gieo vần như:
Vần tréo:
Bằng trắc bằng trắc bằng
1 2 3 4 5
Trắc bằng bằng trắc bằng
1 2 3 4 5
Trắc trắc bằng trắc trắc
1 2 3 4 5
Bằng bằng bằng bằng bằng
1 2 3 4 5

Vần ôm:
Bằng bằng bằng bằng bằng
1 2 3 4 5
Trắc bằng bằng bằng trắc
1 2 3 4 5
Bằng bằng bằng bằng trắc
1 2 3 4 5
Bằng bằng trắc bằng bằng
1 2 3 4 5

Vần 3 tiếng bằng:
Trắc bằng bằng bằng bằng
1 2 3 4 5
Trắc bằng bằng bằng trắc
1 2 3 4 5
bằng bằng bằng trắc trắc
1 2 3 4 5
Trắc bằng trắc bằng bằng
1 2 3 4 5

Thơ sáu chữ
Trong thể loại nầy thường thì được để ý tới cách gieo vần nhiều hơn là khổ thơ
Cách gieo vần:

Vần tréo:
Bằng bằng bằng bằng trắc bằng
1 2 3 4 5 6 (vần)
Bằng bằng trắc bằng trắc bằng
1 2 3 4 5 6 (vần)

cứ thế tiếp tục

Vần ôm:
Bằng bằng trắc bằng trắc trắc
1 2 3 4 5 6
Bằng bằng trắc trắc bằng bằng
1 2 3 4 5 6

Thơ Bảy chữ
Trong thơ bảy chữ, vần những tiếng 1, 3 và 5 không kể. Tiếng 2, 4 và 6 có thể phân tích như sau:

2 4 6
bằng trắc bằng
2 4 6
trắc bằng trắc

__________________________________________________ _____________
Hy vọng rằng từ những tài liệu nầy Tinh cầu không tên nầy sẽ xuất hiện những cây bút trẽ và kho tàng vườn thơ ngày càng thêm phong phú
Thân