PDA

View Full Version : Tam Tự Kinh



tkv
12-28-2007, 12:42 PM
Nhân chi sơ tính bản thiện.
Tính tương cận tập tương viễn.
Cẩu bất giáo, tính năi thiên.
Giáo chi đạo, quư dĩ chuyên.
Tính Mạnh Mẫu trạch lân xứ.
Tử bất học, đoạn cơ trữ.
Đậu Yên Sơn, hữu nghĩa phương.
Giáo ngũ tử, danh cụ dương.
Dưỡng bất giáo, phụ chi quá.
Giáo bất nghiêm, sư chi đọa.

Dịch nghĩa:

Phàm con người lúc ban đầu, cái tính vốn thiện. Thiện tính vốn không khác xa nhau mấy, chỉ v́ chịu ảnh hưởng hoàn ảnh môi trường xung quanh mới có sự khác nhau. Nếu như không thi hành giáo dục, thiên tính sẽ biến chuyển. Về nguyên tắc giáo dục, đầu tiên quí ở sự chuyên cần. Mẹ Mạnh Tử chọn nhà gần trường học để Mạnh Tử tập lễ độc thư. Mạnh Tử không biết nỗ lực cầu học, bà mẹ bèn chặt găy khung cửi và thôi dệt để cảnh tỉnh Mạnh Tử. Hay như ông Đậu Vũ Quân thời Ngũ đại có thể biết phép tắc lễ nghĩa, dạy bảo năm đứa con đều trở thành nhân kiệt tiếng tăm lừng lẫy vào thời đó. Nuôi con mà không dậy dỗ, đó là lỗi của người cha. Thầy dạy mà chẳng nghiêm chỉnh, ấy là lỗi nơi thầy.

Chú thích:

Tích Mạnh Mẫu: Mạnh Tử mất cha từ nhỏ, nhà gần phường mổ, Mạnh Tử học việc mua bán giết mổ. Bà mẹ nói đất này không thể để con ở, bèn dời đi. Ở gần phường mai táng, Mạnh Tử học việc chôn cất khóc lóc. Bà mẹ nói đất này cũng không thể để con ở, lại lần nữa dời nhà đến gần trường học. Mạnh Tử học lễ nghĩa, sớm tối không ngừng. Bà mẹ nói đấy này có thể giáo dục con, bà định cư ở đó.

Tử bất học: Mạnh Tử học ở nhà thầy, một ngày kia chân học mới trở về nhằm lúc bà mẹ đang dệt cửi, bà mẹ liền cầm dao chặt đứt khung cửi. Mạnh Tử hoảng sợ qú mà hỏi duyên cớ. Bà mẹ nói: "Con đọc sách giống như mẹ dệt vải. Mẹ chắp từng sợi thành từng tấc, từng tấc thành từng thước, ngày ngày không ngừng mới có thể thành tấm vải dài dùng được. Đạo học cũng phải ngày ngày không ngừng mới có thể thành tài. Nhưng con lười biếng bỏ học có khác ǵ tấm vải dệt chưa xong mà tự chặt khung cửi đi". Mạnh Tử tỉnh ngộ, từ đó trở nên siêng học.

tkv
12-28-2007, 12:44 PM
Tử bất học, phi sở nghi.
Ấu bất học, lăo hà vi?
Ngọc bất trác bất thành khí.
Nhân bất học, bất tri nghĩa.
Vi nhân tử, phương thiếu thời, thân sư hữu, tập lễ nghi.
Hương cửu linh, năng ôn tịch.
Hiếu vu thân, sở đáng chấp.
Dung tứ tuế, năng nhượng lẽ.
Đễ vu trưởng, nghi tiên trị.
Thủ hiếu đệ, thứ kiến văn, tri mỗ số, thức mỗ văn.
Nhất nhi thập, thập nhi bách, bách nhi thiên, thiên nhi vạn, tam tài giả, thiên địa nhân.
Tam quang giả, nhất nguyệt tinh.
Tam cương giả quân thần nghĩa, phụ tự thân, phu phụ thuận.

Dịch nghĩa:

Trẻ con chẳng học chẳng phải lẽ. Lúc trẻ không học, lớn lên sẽ làm được việc ǵ? Cho dù đá quí ngọc đẹp mà không trau chuốt, đẽo gọt th́ làm sao thành món đồ. Người có tài chẳng được giáo dục không tài nào biết lễ nghĩa. Phận làm con, lúc trẻ nên gần thầy hiền, kết giao bạn tốt, học tập lê nghi. Hoàng Hương thời Đông Hán mới chín tuổi, mùa hạ nóng nực th́ quạt cho cha mẹ được mát, xua đuổi muỗi. Ngày đông lạnh lẽo lấy thân ḿnh ủ ấm chăn gối của cha mẹ. Người thời nay tuy không cần làm ấm chiếu nhưng hiếu với song thân là điều người nên thực hiện. Khổng Dung thời Đông Hán mới 4 tuổi, khi có người cho một giỏ trái lê, các anh giành lấy trái lê, Không Dung lấy sau cùng, chọn trái nhỏ nhất. Em nhỏ phải cung kính anh cả, là cái lư hữu ái, khiêm nhường, cần phải học cho sáng tỏ. Đạo lư quan trọng nhất của con người là hiếu với cha mẹ và cung kính huynh trưởng. Thứ hai phải nghe nhiều trông rộng, biết việc xưa nay, ở trong ở ngoài. Ngoài ra c̣n phải học biết số, biết tên. Từ số một đến số mười, từ số mười đến số trăm, từ số trăm đến số ngàn, từ số ngàn đến số vạn. "Tam tài" mà người xưa bàn đến là trời, đất và người; "tam quang" là mặt trời, mặt trăng, vác v́ sao; "tam cương" là vua tôi có trung ái, cha con thân nhau, vợ chồng ḥa thuận.

tkv
12-28-2007, 12:48 PM
Viết xuân hạ, viết thu đông, thứ tứ thời, vận bất cùng.
Viết nam bắc, viết tây đông, thử tứ phương, ứng hồ trung.
Viết thủy hỏa, mộc kim thổ, thử ngũ hành, bổn hồ số.
Viết nhân nghĩa, lễ trí tín, thử ngũ thường bất dung vặn.
Đạo lương thúc, mạnh thử tắc thử lục cốc, nhân sở thực.
Mă ngưu dương, kê khuyển thỉ, thử lục súc, nhân sở tự.
Viết hỉ nộ, viết ai cụ, ái ố dục, thất t́nh cụ.
Bào thổ cách, mộc thạch kim, ty dữ trúc, năi bát âm.
Cao tăng tổ, phụ nhi thân, thân nhi tử, tử nhi tôn.
Tự tử tôn, chí huyền tăng, năi cửu tộc, nhân chi luân.
PHụ tử tức, phu phụ ṭng.
Huynh tắc hữu, đệ tắc cung.
Trưởng ấu tự, hữu dữ bằng.
Quân tắc kính, thần tắc trung.
Thử thập nghĩa nhân sơ đồng.

Dịch nghĩa:

Xuân hạ thu đông, một năm có 4 mùa, xoay vần tuần hoàn không cùng. Đông Tây Nam Bắc đó là bốn phương, đều ứng với ở giữa. Ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, bao quát cả vạn vật đất trời. Thuyết ngũ thường Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, bắt nguồn từ bản tính của con người, không nên làm cho rối loạn. Đạo, lương, thúc , mạch, thử, tắc đó là 6 loại lương thực, là lương thực của con người. Sáu loại gia súc ngực, trâu, dê, gà, chó và lợn, mọi người nuôi dưỡng để cày bừa, làm thực phẩm và vạn chuyển giao thông. Mừng, giận, bi thương, sợ, yêu, ghét, ham muốn, đó là bảy thái độ t́nh cảm mà mỗi một người đều có. Tám loại vật liệu bầu, da, gỗ, đá, kim, tơ, trúc chế tạo dụng cụ âm nhạc, gọi là bát âm. Ông sơ, ông có, ông nội, cha, đến ḿnh, đến con, đến cháu, đến chắt tức là chín đời trong họ, hợp làm cửu tộc. Cửu tộc có già, trẻ, thân, sơ đều phải ḥa mục yêu kính lẫn nhau, đó là đạo lư nhân luân. Cha con th́ có ơn, vợ chồng th́ tḥa thuận phục ṭng. Anh th́ yêu quí em, em th́ cung kính anh. Người lớn, kẻ nhỏ, gặp việc nên cứ theo tôn ti trật tự mà làm. Giữa bạn bè thành tín là quan trọng. Vua th́ phải kính trọng quốc sự, quần thần th́ phải tận tâm tận lực với chức phận. Phụ từ, tử hiếu, phu xướng, phụ tùy, huynh ái, đệ cung, quân kính, thần trung, bằng nghị, hữu tín, đó là mười nghĩa, mọi người phải tuân theo.

tkv
12-28-2007, 12:51 PM
Phàm huấn mông, tu giáng cứu, tường huấn cổ, minh cú độc.
Vi học giả, tất hữu sơ, "Tiểu học" chung, chí "Tứ thư".
"Luận ngữ" giả, nhị thập thiên, quần dệ tử, kư gia ngôn.
"Mạnh Tử" giả, thất thiên chỉ, giảng đạo đức, thuyết nhân nghĩa.
Tác "Trung Dung" Tử Tư bút, "Trung" bất thiên, "Dung" bất dich.
Tác "Đại học", năi Tăng Tử, tự tu tề, chí b́nh trị.
"Hiếu kinh" thông, "Tứ thư" thục, như "Lục kinh", thủy khả độc.

Dịch nghĩa:

Phàm là dạy dỗ trẻ thơ phải giảng giải xem xét, giải thích tường tận nghĩa của chữ, nói rơ dấu ngắt trong từng câu. Sự nghiệp học hành phải tiến thân từng bước, phải học từ chỗ ban đầu, nên bắt đầu bằng sách "Tiệu học" do Chu Hi thời Nam Tống viết. Sau khi học xong sách "Tiểu học" kế đó học sách "Tứ thư" do Chu Hi viết. Sách "Luận ngữ" có hai mươi chương, do học tṛ Khổng Tử ghi chép lại những lời nói của Khổng Tử. Sách "Mạnh Tử" do Mạnh Tử sáng tác gồm 7 chương, giảng về "đạo" mà người phải tuân hành, cái "đức" mà các bậc thánh hiền đă đạt được qua hoạt động thực tiễn, và nhân từ bác ái, hành động thích hợp. C̣n có sách "Trung Dũng" do Tử Tư cháu Khổng Tử làm ra. "Trung" nghĩa là chẳng thiên lệch, "dung" nghĩa là chẳng đổi. Tác giả sách "Đại học" là Tăng Sâm học tṛ của Không Tử. Sách giảng về tu thân, trề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ. Sách "Hiếu kinh" ghi chép những đạo lư mà Khổng Tử trả lời Tăng tử về chữ "hiếu", sách này đă thông, "Tứ tư" đă thuộc, rồi mới có thể đọc "Lục kinh".

mucdong
02-11-2008, 09:29 AM
nguyên băn gốc dạng PDF :

- http://vietnetlinks.com/thuvien/tamtukinh.pdf

hoạc là dl tại đây

http://www.mediafire.com/?6phxn2nyhbd