PDA

View Full Version : Lư BẠch - Lư Trích Tiên



mucdong
02-13-2008, 01:35 AM
CHƯƠNG I
THÂN THẾ & SỰ NGHIỆP LƯ BẠCH
VAI TR̉ ĐỆ NHỨT TRẤN OAI NGHIÊM




“Một mảnh sao băng xuống cơi trần”



Lư Bạch là nhà thơ nổi tiếng của Trung Hoa. Thơ của ông mang phong cách lăng mạn, tích cực và thanh thoát, ư tứ cao xa.



LƯ BẠCH (701 – 762)

Lư Bạch sinh năm 701, thời đại được xem là thịnh vượng nhất của chế độ phong kiến Trung Hoa. Nước Trung Hoa lúc này rất rộng, Đông Bắc giáp Cao Li, phía Bắc giáp Tây Bá Lôi Á, Tây Bắc giáp Trung Á, Tây Nam giáp Án Độ.

Theo trong cuốn Văn bia đề trên mộ Lư Hàn Lâm (Lư Bạch) của Phạm Truyền Chính th́ cuối đời Tùy, gia đ́nh Lư Bạch đă chuyển sang vùng Trung Á, nay thuộc Liên Xô cũ. Đây mới chính là nơi chôn nhau cắt rún của Lư Bạch, nơi ngôi sao Thái Bạch đă giáng trần.

Đến khi ông được 5 tuổi, gia đ́nh mới dời đến Tứ Xuyên, một tỉnh miền núi, phường Kỷ Tứ Xuyên có nhiều danh lam thắng cảnh như núi Nga Mi, núi Thanh Thành và nhiều hồ lớn. Mẹ mất sớm nên chỉ c̣n cha.Cha ông và ông đến sống tại làng Thanh liên, huyện Chương Minh tỉnh Tứ Xuyên, thường gọi là đất Thục. Mười bốn tuổi Lư Bạch đă tinh thông sử sách, miệng thốt thành thơ. Mười lăm tuổi ông đă thuộc Bách gia chư tử và các loại kỳ thư nhưng nhất định không ứng thí mà lo học kiếm rồi lên núi cầu Tiên học Đạo.

Tư chất thông minh, say mê nghệ thuật, với tay kiếm địch nổi ngàn người, ông mong sau này trở thành một hiệp khách chân chính, vung kiếm trừ gian cứu vớt thiên hạ khỏi áp bức, lầm than. Niềm đam mê này đă nói lên được hùng tâm, tráng chí của ông từ thời c̣n rất trẻ.

Khi Lư Bạch được 16 tuổi, kiếm thuật của ông đă nổi tiếng khắp vùng và ông cũng đă đặt dấu chân lên những đỉnh núi cao vút, những hang động bí hiểm thâm sâu, những ḍng sông nước cuồn cuộn chảy. Mặc cho bạn bè người thân thúc giục, ông vẫn không thích dấn thân vào con đường danh lợi, luồn cúi để t́m quan chức. Thực là một bực kỳ tài, học hỏi miệt mài, suy nghĩ thấu đáo để mở rộng thành thơ, vung bút tan mây.

Đến 25 tuổi, ông từ giă đất Thục để viễn du khắp đất nước, ông ra đi với hoài băo trong ḷng là:ôm ấp tài kinh bang tế thế, dụng văn bút để có thể biến đổi phong tục, dụng tài học cứu vớt được thiên hạ chứ không phải chỉ là mọt sách.Ông thăm Bạch Đế, Mịch La Giang Lăng, Động Đ́nh. Trước bao cảnh đẹp, tâm hồn ông vẫn băn khoăn trước bao bất công của cuộc đời, Người dân th́ quá lam lũ lầm than, c̣n vua quan th́ phè phỡn sung sướng lại c̣n áp bức dân lành.Là một kiếm sĩ, một học sĩ, ta nên vung kiếm dẹp tan loài sâu mọt v́ dân mà cứu nàn hay quên đi tất cả, thoát khỏi bụi trần, t́m về với thiên nhiên ? Nhập thế hay xuất thế?

Năm 27 tuổi, ông kết hôn với Hứa thị, cháu của quan tướng quốc Hứa Vũ Sư. Sau đó ông chu du vùng Giang Hạ, Hoàng Hà, Vũ Xương, Lô Sơn, kết bạn với Mạnh Hạo Nhiên Thôi Hiệu, Hạ Tri Chương.

Ông ở Trường An một năm, hiểu rơ thêm cái thối nát của chế độ phong kiến: vua mê sắc, bỏ mặc việc nước cho bọn hoạn quan xu nịnh, coi rẽ nhân tài. V́ sự nghiệp của đất nước mà lắm lo âu, Ông tiếp tục đi Lạc Dương, Trung Sơn, Thái Sơn.ông kết giao với các vị ẩn dật nơi rừng núi và tạo nên nhóm “Trúc Khê Lục dật”. Đó là Lư Bạch, Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Trương Thúc Minh, Đào Miện.

Nhóm này coi thường công danh phú quí v́ muốn tự ḿnh tu tĩnh để t́m cho ra phương thuốc hay cứu đời.Cầu Tiên học Đạo là một dấu ấn đặc biệt trong đời Lư Bạch và ảnh hưởng đến thơ văn của ông rất nhiều.Ông theo Đạo giáo không phải để trốn tránh thực tại mà v́ thích lối sống phóng khoáng, tự do thoát khỏi sự trói buộc của chế độ thời đó.

Sau khi sanh thêm một con trai, Hứa thị bị bệnh và mất . Ông gởi con cho người thân nuôi dưỡng và trở lại Trường An. Ngô Quân tiến cử ông cùng vua Đường Huyền Tôn với lời khen ngợi : “Đây là con người danh lừng vũ trụ, thông đạt cổ kim, văn vơ toàn tài, lư t́nh đầy đủ. Nhà vua được người này khác ǵ nhà Hán được Trương Tử Pḥng”

Ông làm việc trong Hàn Lâm Viện, giúp vua đọc phiên thư của sứ Cao Ly mà không ai trong triều đọc được. Thế nhưng trong triều chỉ đầy bọn nịnh thần trong khi dân bên ngoài đói chỉ c̣n da bọc xương, nên ông tỏ nhiều thái độ bất măn, chán ngán. Nghe lời dèm xiểm của Cao Lực Sĩ, vua Huyền Tôn giải chức ông ban tặng phẩm vật cho về quê. Ông lại tiếp tục sống đời phiêu lăng ngao du sơn thuỷ.

Lư Bạch đến Lạc Dương, kết bạn cùng Cao Thích và Đỗ Phủ mà trước đó Hạ Tri Chương đă giới thiệu với Đỗ Phủ: Lư Bạch là “Thiên Thượng Trích Tiên nhân.” Thơ Tiên gặp Thơ Thánh, Lư Bạch và Đỗ Phủ rất thân thiết và quí trọng nhau

Năm 756, An Lộc Sơn làm phản, đem hơn 15 vạn quân từ U Châu về Hàm Dương, chiếm Lạc Dương, kéo quân về Trường An và biến Trường An thành tro bụi trong khói lửa.

Đường Huyền Tôn có hai hoàng tử: Túc Tôn là con thứ 14, Lư Lân là con thứ 18, cả hai tổ chức chống giặc ở hai nơi. Lư Lân khẩn khoản mời Lư Bạch làm quân sư “ta mong được đón người hiền như đại hạn lâu ngày mong mưa”.Trước tấm thạnh t́nh của Lư Lân, trước cảnh muôn dân bị chém giết, máu chảy đầy đường, xương chất thành đống, ông nhận lời. Thanh thế của Vĩnh Vương Lư Lân ngày càng lớn. Đường Túc Tôn sợ Vĩnh Vướng thắng được An Lộc Sơn sẽ cướp ngai vàng nên vội triệt hạ. Lư Bạch bị bắt và bị đày đến vùng sơn lam chướng khí tận miền Tây Nam Trung Hoa.

Năm 758 Túc Tôn lên ngôi, đại xá thiên hạ. Lư Bạch được tha.

Năm 760, Lư Bạch trở lại Động Đ́nh, ḷng buồn v́ chí cao mà không đạt. Vào năm 762, ông mất tại Từ Châu.

Tay kiếm tay đàn nhà thơ Lư Bạch đă trở về với không gian vô tận, hay theo như lời đồn là ông đă xuống nước ôm trăng đi măi măi. Tại bến Thái Thạch thuộc Kim Lăng có lập đền thờ gọi là đền thờ Lư Trích Tiên. Lư Bạch để lại hàng ngàn tác phẩm và lư tưởng tranh đấu cho công bằng, tự do.

Lư Bạch, Đỗ Phủ và một số thi sĩ khác đă có công vạch ra một con đường mới cho thi ca Trung Hoa, làm cho thi văn trở nên rơ ràng, có qui tắc (Đường luật), ảnh hưởng lâu dài đến các thế hệ sau và lan rộng ra các nước phụ cận như Việt Nam, Nhật Bổn, Đại Hàn.

Dùng văn chương có triết lư, đạo lư; trong văn thơ lại có nhạc, có t́nh, có cả thiên nhiên.Tính tích cực nhập thế của ông bắt nguồn từ ḷng yêu nước muốn cứu giúp chúng sanh bằng tài năng và trí tuệ của ḿnh.Tuy không chịu ra thi cử nhưng ông vẫn để Ngô Quân tiến cử là v́ lẽ đó.Để rồi cuối cùng có tài mà tài không được dùng,muốn ra giúp đời mà buộc phải nh́n đời như giấc mộng,ông đă mượn rượu và thơ để quên đi nỗi thống khổ của ḿnh, đồng thời giúp người đời nhận biết cơi đời là phù du giả tạm, danh lợi là nguồn gốc sanh đại loạn. Ông tiếp thu tinh thần tích cực nhập thế của Nho gia để giúp nước, cứu đời và tinh thần tự do, bay bổng, yêu thiên nhiên, khinh thường công danh phú quư của Đạo gia, cùng với tinh thần khẳng khái nghĩa hiệp của một trang kiếm khách.



Đại bàng vút bay lay tám cơi.

Giữa trời cánh găy sức kiệt dần

Hơi gió c̣n chuyển rung vạn thế.

“Lư Bạch đă đi vào cơi bất tử nhưng sao Thái Bạch vẫn măi măi sáng ngời trên bầu trời xanh thẳm”.

Thật vậy, từ khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Đạo Cao Đài ra đời, chúng ta mới có dịp biết đến Đức Lư Thái Bạch, một trong Tam Trấn Oai Nghiêm, đă giáng bút phổ độ chúng sanh từ lúc ban sơ và chỉ vẽ từng chi tiết trong kiến trúc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh. Công đức của Ngài thật cao cả, to lớn không thể dùng bút mực tả hết thành lời.

Tuy nhiên, chúng ta cần biết rằng những người tín đồ Cao Đài đă thờ chơn linh của Lư Bạch làm Giáo Tông Đạo Cao Đài chứ không thờ thi hào Lư Bạch. Lư Bạch chỉ là một trong những kiếp mà Ngài đă xuống thế gian này. Chơn linh Lư Bạch là một khối thần lực của Thượng Đế từ tạo Thiên lập Địa đă có. Chính Ngài đă giáng cơ cho biết.

Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch

Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu

Quyền năng vựng thửa Thiên triều.

Càn Khôn Thế Giới dắt d́u tinh quân.

Thái là rất lớn, Bạch là sắc trắng, sáng sủa. Vậy chúng ta có thể hiểu: nguyên căn của Ngài bắt nguồn từ khối đại linh quang (Ngôi Thái Cực) đă biến sanh ra một khối năng lượng sáng trắng vô cùng.Lúc khởi thuỷ của vũ trụ, Ngài không có danh xưng nhưng quyền năng to tát. Trải qua không biết bao nhiêu thời gian cho đến lúc :

Tinh quân thọ sắc thuở Phong Thần.

Cho đến Đường triều mới biến thân

Thái Bạch Kim Tinh đang trị thế

Trường Canh trích tử đến thăm trần.

mucdong
02-13-2008, 01:36 AM
CHƯƠNG II
THI VĂN CỦA LƯ BẠCH






A. THƠ DO TRƯƠNG Đ̀NH TÍN TUYỂN DỊCH


NGŨ NGÔN THI



HÁ CHUNG NAM SƠN QUÁ HỘC

TƯ SƠN NHÂN TÚC, TRÍ TỬU

Mộ ṭng bích sơn há

Khước cố sở lai kính

Tương huề cập điền gia

Lục trúc nhập u kính

Hoan ngôn đắc sở khí

Trường ca ngâm Ṭng phong

Ngă túy quân phục lạc



Sơn nguyệt tuỳ nhân quy

Thương thương hoành thuư vi

Đồng trĩ khai kinh phi

Thanh la phất hành y

Mỹ tửu liêu cộng huy

Khúc tận hà tinh ly

Đào nhiên cọng vong ky



Chú thích

Chung Nam Sơn : Núi Chung Nam, cách thành Nam Phủ Tây An (huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây) chừng 50 dặm.

Khước Cố : Chỉ ư quay lại.

Thương thương : Chỉ trời màu xanh thẳm

Thuư vi : Vùng đất nằm chênh vênh lưng chừng núi

Kinh phi : Cửa sài, cửa phên đan bằng lá

U kính : Con đường nhỏ vắng vẻ

Khí : Có âm nữa là ‘khế’ nghĩa là nghỉ ngơi.

Cọng huy : cùng rót rượu.

Ṭng phong : Tên một khúc hát vui nhộn

Đào nhiên : Hớn hở, vui mừng

Vong ky : Ḷng không dối trá, với đời không đua tranh.



XUỐNG NÚI CHUNG NAM GHÉ NHÀ SƠN NHÂN

HỘC TƯ, NGHỈ ĐÊM, BÀY TIỆC RƯỢU

Buổi chiều đến, ta theo sắc núi xanh mà về,

Trăng trong núi cũng đi theo người trở về

Ngoảnh đầu nh́n lại con đường nhỏ vừa qua,

Chỉ c̣n thấy sắc núi xanh thẳm như vắt ngang lưng núi.



(Trên đường gặp Sơn nhân Hộc Tư)

Cùng ta dắt tay nhau về điền trang

Trẻ nhỏ vội mở rộng cửa phên bằng cỏ.

Rặng tre xanh rợp bóng con đường nhỏ vắng vẻ.

Cỏ xanh hai bên đường quét vào áo ta qua



Ta vui mừng cười nói v́ được chổ nghỉ chân tốt,

Sai trẻ bày tiệc rượu ngon rồi cùng ta chuốc chén thoả thích

Hứng chí cao giọng ngâm vang khúc hát “Ṭng phong”

Hát dứt th́ ánh sao cũng thưa dần trên dăi Ngân Hà



Ta đă quá say mà ông lại càng khoái hoạt hơn thường

Cả ta và ông đă quên hết ḷng dối trá đua tranh trên cơi đời này.



Dịch thơ

XUỐNG NÚI NAM SƠN GHÉ NHÀ HỘC TƯ

Chiều chiều bước xuống lưng đèo

Bóng trăng trên núi cũng theo người về

Ngoảnh mặt lại đầm đ́a nẻo tắt

Rặng non xa xanh ngắt một màu

Nhà quê sẵn rủ rê nhau

Trẻ thơ lần mở cửa lau khuyên chào



Khóm trúc biếc chen vào ngơ chật

Ngọn lau xanh sẽ phất áo người

Mừng rằng được chốn thảnh thơi

Rượu ngon chuốc chén đầy vơi ta cùng

Tiếng hát lẫn gió thông lác đác

Khúc ca tàn xơ xác vẽ sao

Ḿnh say bác cũng lao đao

Cho xong một cuộc biết bao chuyện đời.



Tam Nguyên Yên Đỗ dịch





NGHĨ CỔ

Sinh giă vi quá khách

Thiên địa nhất nghịch từ

Nguyệt thỏ không đảo dược

Bạch cốt tịch vô ngôn

Tiền hậu cánh thán tức

Tử giả vi qui nhân

Đồng vi vạn cổ trần

Phù tang dĩ thành tân

Thanh ṭng khởi tri xuân ?

Phù vinh hà túc trân ?



Nghĩ : Làm phỏng theo, bắt chước làm theo

Nghịch lữ : Quán trọ, nhà trọ

Nguyệt thỏ : Ngọc thỏ, Ngọc thố : Con thỏ trên mặt trăng .

Phù tang : Cây gỗ thần, cây dâu sinh đôi.

Phù vinh : Vinh dự hảo huyền.



Dịch nghĩa:

Sống chẳng qua chỉ là người khách qua đường

Chết mới chính là người khách trở về

Trời đất chỉ là một quán trọ

Cùng xót thương cho cát bụi vạn năm

Con thỏ ngọc chẳng c̣n giả thuốc

Cây giă thần cũng đă trở thành củi

Xương trắng im lặng có nói ǵ đâu

Cây tùng xanh hoa lá biết được mùa xuân ?

Nh́n trước, nghĩ sau ai cũng than thở

Cái bă vinh hoa hăo huyền sao lại để trân quí ?




NGŨ NGÔN NHẠC PHỦ

*

TRƯỜNG CAN HÀNH

Thiếp phát sơ phú ngạch

Lang kỵ trúc mă lai

Đồng cư Trường Can lư

Thập tứ vi quân phụ

Đê đầu hướng ám bích

Thập ngũ thuỷ triển my

Thường tồn bảo trụ tín

Thập lục quân viễn hành

Ngũ nguyệt bất khả xúc

Chiết hoa môn tiền kịch

Nhiễu sàng lộng thanh mai

Lưỡng tiểu vô hiềm sai

Tu nhan vị thường khai

Thiên hoán bất nhất hồi

Nguyện đồng trần dữ hôi

Khởi thượng vọng phu đài

Cù Đường Diễm Dự đôi

Viên thanh thiên thượng ai.

Môn tiền tŕ hành tích

Đài thâm bất năng tảo

Bát nguyệt hồ điệp hoàng

Cảm thử thương thiếp tâm

Tảo vản hạ Tam Ba

Tương nghinh bất đạo viễn

Nhất nhất sinh lục đài

Lạc diệp thu phong tảo

Song phi tây viên thảo

Toạ sầu hồng nhan lăo

Dự tương thư báo gia

Trực chí Trường Phong sa



Tiền kịch : Đùa giỡn phía trước

Trúc mă : Ngựa tre, Một tṛ chơi của trẻ con, chúng bẻ một cành tre rồi cỡi lên làm ngựa.

Trường can: Tên một làng ở huyện Giang Ninh tỉnh Giang Tô

Băo trụ : Ôm cột. Chữ lấy từ tích Vĩ Sinh có hẹn với một người con gái dưới cầu, Vĩ Sinh không thấy người con gái đến, Vĩ Sinh cứ ôm cột đầu mà đợi. Nước thuỷ triều dâng cao, Vĩ Sinh chịu chết chứ không chịu thất tín (Sách Trang Tử).

Vọng Phu Đài : Đây là tên một cái đài ở phía nam Trung Châu khoảng 10 dặm

Cù Đường : Tên một cái thác lớn ở phía đông thành của phủ Quỳ Châu, tên cũ là Tây Lăng hạp, có 3 cửa vào.

Diễm Dự : Tên một cửa sông, một mơm núi ngầm rất nguy hiểm ở đầu sông Trường Giang .

Tam ba : là Ba quận, Ba đông và Ba tây; Nay ở phía đông bắc Tứ Xuyên.

Trường phong sa : Một dăy đất nằm dọc theo sông Trường Giang nay là huyện Quư Tŕ tỉnh An Huy.





Dịch nghĩa



TRƯỜNG CAN HÀNH

Tóc thiếp vừa mới chấm ngang trán,

Đang bẻ hoa chơi đùa ở trước cửa

Chàng cỡi con ngựa bằng tre đến,

Chạy quanh vườn giỡn chơi ném đầy quả mai xanh

Chàng với thiếp cùng ở làng Trường Can

Lúc bấy giờ thiếp và chàng đều là những đứa trẻ nhỏ

Chẳng hề có ư tứ ǵ

Năm mười bốn tuổi thiếp về làm vợ chàng

Thiếp rất thẹn nên mặt kém tươi cười



Thiếp thường nằm dúi đầu vào vạch tối

Mặc cho chàng gọi cả ngàn lần, thiếp vẫn chẳng dám quay đầu lại

Năm thiếp được mười lăm tuổi, mặt mày mới tươi đẹp, vợ chồng cùng nhau ân ái.

Thiếp nguyện cùng chàng sống chết bên nhau măi măi cho dù có biến thành tro bụi cũng cam tâm.

Chúng ta cùng nhau đến chết vẫn không thay đổi ư chí

Ngày ngày nh́n chàng há thiếp phải lên vọng phu đài để trông ngóng chàng sao ?



Năm thiếp mười sáu tuổi, chàng lại phải đi xa

Cù Đường, Diễm Dự là những nơi nguy hiểm vô cùng;

Tháng năm không thể qua được nơi đó

Tiếng vượn hú vang trời nghe thật thảm thiết

Trước cửa vẫn c̣n dấu chân lúc tiễn chàng đi

Nay khắp sân rêu xanh đều phủ cả rồi

Rêu quá nhiều thiếp không thể nào quét hết được



Một vài chiếc lá rụng theo gió thu sớm

Đến tháng tám những con bướm vàng bay

Từng đôi, từng đôi bay trên thảm cỏ nơi vườn tây

Thấy cảnh này, ḷng thiếp đau đớn vô cùng

Ngồi âu sầu (nhớ chàng) làm cho má đỏ ngày càng già thêm

Sớm chiều chàng xuống Ba quận trở về

Xin chàng hăy gởi thư về báo cho thiếp biết;

Đi đón chàng thiếp đâu ngại đường xa,

Thiếp sẽ đi thẳng đến Trường phong sa để nghinh tiếp.





TỬ DẠ THU CA

Trường An nhất phiến nguyệt

Thu phong xuy bất tận

Hà nhật b́nh Hồ lỗ ?

Vạn hồ đảo y thanh

Tổng thị Ngọc Quan t́nh

Lương nhân băi viễn chinh



Chú thích :

Tử Dạ : Tên một khúc hát đời Tấn, theo danh sách Đường Thi Nhạc chí. Đời Tấn có một người con gái tên là Tử Dạ, có tài sáng tác những bài ca, thanh âm hơi buồn bă bi ai. Sách Nhạc Phủ Giải Đề ghi rằng về sau người ta lấy bốn mùa để sáng tác các từ khúc nên biến thành bốn mùa Tử Dạ ca khúc.

Đảo y : Xưa người ta giặt áo quần bằng cách lấy một cái chày vồ đập vào áo.



Dịch nghĩa :

Trường An một mảnh trăng vàng

Muôn nhà đập áo tiếng vang đêm trường

Gió thu thổi, tiếng c̣n vương

Ngọc môn quan chính t́nh thương gửi chàng

Ngày nào b́nh được Hồ bang?

Chàng về xếp giáp lụi tàn chiến chinh!

mucdong
02-13-2008, 01:37 AM
NGŨ NGÔN TỨ TUYỆT

*



NGỌC GIAI OÁN

Ngọc giai sinh bạch lộ

Dạ cửu xâm la miệt

Khước hạ thuỷ tinh liêm

Linh lung vọng thu nguyệt



Ngọc giai oán ; Tên một bài ca nước Sở xưa

Thuỷ tinh liêm : Rèm kết bằng những hạt thuỷ tinh



Dịch nghĩa

HẬN TRÊN THỀM NGỌC

Sương trắng trong đọng trên thềm ngọc

Khi lạnh đêm khuya thấm ướt chiếc tất lụa

Nàng bèn buông chiếc rèm bằng thuỷ tinh xuống

Trong rèm ngắm ánh trăng thu sáng lóng lánh.




NGỮ NGÔN LUẬT THI

*

DẠ BẠC NGƯU CHỮ HOÀI CỔ

Ngưu chữ Tây giang dạ.

Đăng châu vọng thu nguyệt

Dự diệc nâng cao vịnh

Minh triêu quải phàm khứ



Thanh thiên vô phiến vân

Không ức Tạ Tướng quân

Tư nhân bất khả văn

Phong diệp lạc phân phân



Chú thích

Ngưu chữ : Một băi đá cát nổi lên trên mặt nước dưới chân núi Ngưu Chữ ở phía Bắc thành phủ Thái B́nh 25 dặm, nay ở phía Bắc huyện Phúc Đồ tỉnh An Huy.

Tây Giang : Tức sông Trường Giang

Tạ Tướng quân : Tức Tạ Thượng đời Tấn.



Dịch nghĩa



ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở NGƯU CHỮ

NHỚ CHUYỆN CŨ

Đêm dừng thuyền trên bến Ngưu Chữ ở phía Tây sông Trường Giang

Nh́n trên trời, chỉ thấy trời xanh xanh không một áng mây trôi

Ta lên thuyền ngắm ánh trăng thu sáng vằng vặc

Bỗng nhớ đến vị tướng quân phong lưu nho nhă họ Tạ

Ta cũng có thể có bản lĩnh để cao giọng ngâm thơ

Chỉ tiếc thay Tạ tướng quân chẳng c̣n nghe thấy

Sáng mai ta giong buồm cho thuyền đi

Chỉ c̣n trên bờ lá phong rụng tơi bời.





ĐỘ KINH MÔN TỐNG BIỆT

Độ viễn Kinh môn ngoại

Sơn tuỳ b́nh đă tận

Nguyệt hạ phi thiên kính

Nhưng lân cố hương thuỷ



Lai ṭng Sở quốc du

Giang nhập đại hoang lưu

Vân sinh kết hải lâu

Vạn lư tống hành châu



Kinh môn : Tên một ngọn núi ở huyện Nghi Đô về phía Tây Bắc 50 dặm thuộc tỉnh Hồ Bắc.

Sở quốc : Có bản viết là ‘Sở khách’. Nước Sở xưa, nay là đất thuộc hai tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc.

Đại hoang : Miền đất rộng.

Hải lâu : Cái khí của ṣ thần h́nh thành lâu đài trên biển. Ngày xưa khi nh́n ra biển người ta thấy trên biển như có lâu đài đền tạ, th́ cho rằng đó là khí con ṣ thần tạo ra nên gọi ‘thần lâu

hải thị’. Sự thật th́ đây chỉ là ảo giác mà thôi.





QUA NÚI KINH MÔN TIỄN NHAU

Ta từ nơi xa đi qua ngoài núi Kinh môn

Đến du ngoạn nơi đất của nước Sở

Con đường theo thế núi chạy dài đến tận nơi đồng bằng,

Nước sông lại chảy vào một vùng đất rộng hoang vu

Dưới ánh trăng sáng, những h́nh ảnh như soi trong một tấm gương trời lớn.

Mây sớm phát sinh kết thành những lâu đài giống như được ṣ thần biến thành.

Ta ở đây thấy nhớ thương con sông nơi quê cũ

Nay chia biệt trên con đường về quê vạn dặm ta hướng về anh tiễn biệt.



* * *



TẶNG MẠNH HẠO NHIÊN

Ngô ái Mạnh phu tử

Phong lưu thiên hạ văn

Hồng nhan khí hiên miện

Bạch thủ ngoạ ṭng vân



Tuư nguyệt tần trung thánh

Mê hoa bất sự quân

Cao sơn an khả ngưỡng ?

Đồ thử ấp thanh phân.



Hồng nhan : Ở đây tác giả dùng với nghĩa lúc c̣n niên thiếu

Hiên miện : Hiên : Xe uốn h́nh cong, cao, hai bên có màn che; Miện : Mũ miện : một loại mũ mà phải từ quan đại phu trở lên mới được đội. Hiên miện : Chỉ người sang, quan chức cao được đi xe đội mũ miện.



TẶNG MẠNH HẠO NHIÊN

Ta rất thích Mạnh phu tử,

V́ ông là một danh sĩ có phẩm cách mọi người đều biết tiếng

Lúc niên thiếu ông nguyện không đi xe cao đội mũ miện,

Nằm cao ngắm ṭng xanh, mây trắng mà nay đầu đă bạc

Lấy cái thú uống rượu say dưới trăng của người xưa làm vui

V́ say đắm cỏ hoa nên không thể đem thân phụng sự quân vương

Phẩm cách thanh cao ví như núi cao ai mà không quí mến ?

Tôi đây những chỉ xa vọng đức thanh cao của ông thôi



THÍNH THỤC TĂNG TUẤN ĐÀN CẦM

Thục tăng băo Lục ỷ

Tây hạ Nga mi phong

Vị ngă nhất huy thủ

Như thính vạn hác ṭng

Khách tâm tẩy lưu thuỷ

Dư hưởng nhập sương chung

Bất giác bích sơn mộ

Thu vân ám kỷ trùng ?

Lục ỷ : tên một loại đàn cầm. Xưa Sái Ung có cây đàn này

Sương chung : Sương rơi nghe xa như tiếng chuông.



Vị sư đất Thục ôm trong tay chiếc đàn Lục ỷ,

Xuống từ phía tây ngọn Nga Mi,

V́ tôi Ngài tấu lên một khúc nhạc,

Nghe như tiếng vạn cây tùng bị gió thổi vang vọng trong hang

Ḷng khách như được ḍng nước tẩy sạch bao phiền muộn,

Dư hưởng truyền vào trời sương như tiếng chuông ngân

Nghe xong bất giác thấy núi xanh đă chuyển vào tối

Mây thu phủ ám không biết mấy từng cao ?




NGŨ NGÔN TUYỆT CÚ



TĨNH DẠ TỨ

Sàng tiền minh nguyệt quang

Nghi thị địa thượng sương

Cử đầu vọng minh nguyệt

Đê đầu tư cố hương

.

SUY NGHĨ TRONG ĐÊM

Ánh trăng sáng đầu giường

Ngỡ rằng đất đọng sương

Ngẩng đầu ngắm trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương .




THẤT NGÔN THI



KIM LĂNG TỬU TỨ LƯU BIỆT

Phong xuy liễu hoa măn ***************** hương

Ngô cơ áp tửu hoán khách thường

Kim Lăng tử đệ lai tương tống

Dục hành bất hành các tận thương

Thỉnh quân thí vấn đông lưu thuỷ

Biệt ư dữ chi thùy đoản trường ?



Kim lăng : Nay là huyện Giang Ninh tỉnh Giang Tô

Ngô cơ : Người đàn bà

Thương : Một loại chén để uống rượu. Ta thường quen đọc chữ này là ‘trường’ hoặc ‘tràng’.

Chi : Đây muốn, chỉ nước chảy về đông.



BÀI THƠ LƯU BIỆT

TẠI QUÁN RƯỢU KIM LĂNG

Gió thổi làm hương thơm bông liễu ngào ngạt cả quán rượu

Trong quán người thiếu phụ đất Ngô ép khách uống vài chén rượu

Con em ở đất Kim Lăng đến đây để đưa tiễn ta

Muốn đi cũng không đi được cùng uống hết mấy chén rượu

Xin hỏi bạn : Ḍng nước chảy măi về đông đó

So t́nh ly biệt của chúng ta với ḍng nước kia ai dài ai ngắn ?



TUYÊN CHÂU TẠ THIẾU LÂU

TIỄN BIỆT HIỆU THƯ THÚC VÂN

Khí ngă khứ giả,

Tạc nhật chi nhật bất khả lưu

Loạn ngă tâm giả,

Kim nhật chi nhật đa phiền ưu

Trường phong vạn lư tống thu nhạn

Đối thử khả dĩ hàm cao lâu

Bồng lai văn chương Kiến an cốt

Trung gian Tiểu tạ hưu thanh phát

Câu hoài dật hứng tráng tứ phi

Dục thướng thanh thiên lăm minh nguyệt

Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu

Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu

Nhân sinh tại thế bất xứng ư

Minh triêu tản phát lộng biên châu



Tạ Thiếu lâu : Lầu Tạ Thiếu. Tạ Thiếu là một nhà văn thơ nổi tiếng đất Dương Hạ Nam Tề thời Nam Bắc Triều. Oâng tự là Pháp Huy, văn chương thanh tú, hoa lệ, giỏi làm thơ ngũ ngôn, từng làm Thái Thú Tuyên Thành.

Hiệu thư Thúc Vân : Quan hiệu thư Thúc Vân.Tiểu tạ : Tức Tạ Huệ Liên





TRÊN LẦU TẠ THIẾU Ở TUYÊN CHÂU

ĐƯA TIỄN HIỆU THƯ THÚC VÂN

Bỏ ta mà đi rồi,

Ngày đă ngày hôm qua không sao giữ lại được;

Làm cho ḷng ta rối loạn này;

Ngày đă ngày hôm nay, càng thêm chuyện ưu phiền



Gió thổi dài vạn dặm, tiễn chân con hồng nhạn ngày thu

Trước cảnh này, có thể vui chén uống say trên lầu cao

(Ông Thúc Vân kiến thức uyên bác)

Văn chương ông thuộc vào cung Bồng lai, mang phong cách đời Kiến An,

Trong đó, Tạ Huệ Liên lại là người tài cao văn nhă

Trong ḷng ông mang theo tứ thơ nhàn dật hứng khởi

Cũng ư thơ hào hùng sảng khoái như bay lên

Muốn vượt lên trên trời xanh để nắm vầng trăng sáng



Rút dao chém xuống nước, nước vẫn chảy xuôi

Nâng chén rượu tiên sầu nhưng sầu vẫn cứ sầu

Người sống trên đời thường không được như ư

Sáng sớm mai sẽ rũ tóc, ngồi chơi trên chiếc thuyền nhỏ để ngoạn du bốn biển.

mucdong
02-13-2008, 01:38 AM
NHẠC PHỦ



TƯƠNG TIẾN TỬU

Quân bất kiến Hoàng hà chi thuỷ thiên thượng lai

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi ?

Quân bất kiến cao đường minh kính bi bạch phát

Triêu như thanh ty mộ thành tuyết ?

Nhân sinh đắc ư tu tận hoan.

Mạc sử kim tôn không đối nguyệt

Thiên sinh ngă tài tất hữu dụng

Thiên kim tán tận hoàn phục lai

Phanh dương tể ngưu thả vi lạc,

Hội tu nhất ẩm tam bách bôi

Sầm phu tử ! Đan Khâu sinh !

Tương tiến tửu, bôi mạc đ́nh

Dữ quân ca nhất khúc ,

Thỉnh quân vị ngă khuynh nhĩ thính

Chung cổ soạn ngọc bất túc quí

Đản nguyện trường tuư bất nguyện tỉnh

Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch

Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh

Trần Vương tích thời yến B́nh Lạc

Đấu tửu thập thiên tứ hoan hước

Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền ?

Kính tu cô thủ đối quân chước

Ngũ hoa mă thiên kim cừu

Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu

Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu.





SẮP MỜI RƯỢU

Anh chẳng thấy nước sông Hoàng hà từ trên trời đổ xuống

Chảy thẳng đến biển mà chẳng hề quay lại ?

Lại chẳng thấy trên nhà cao gương sáng buồn tóc bạc

Sáng tóc như tơ xanh mà chiều đă thành tuyết bạc

Sinh trên đời nếu đắc ư nên tận vui trọn

Chớ để chén vàng trống không trơ dưới nguyệt

Trời sinh ta tất phải có chỗ dùng

Ngàn vàng tiêu sạch rồi lại có

Ninh dê, trâu làm đồ nhắm

Tất phải uống liền ba trăm chén

Bác Sầm Tham ơi ! Bác Đan Khâu này !

Sắp dọn tiệc rồi, uống ngay chớ dừng chén

V́ nhau tôi xin hát

Mời các anh v́ tôi mà lắng nghe

“ Bữa tiệc đầy sơn hào hải vị cũng chẳng quí ǵ

Tôi nguyện say măi mong chẳng tỉnh lại làm chi

Xưa nay các bậc thánh hiền đều bặt tiếng !

Chỉ phường Thánh rượu được tiếng ghi muôn đời

Xưa Trần Vương Tào Thực dọn yến nơi lầu B́nh Lạc

Một đấu rượu mười ngàn, uống say nói cười vui vẻ

Chủ nhân ta kêu thiếu tiền ư ?

Ttôi sẽ mua ngay để các anh chuốc chén

Tôi có ngựa Ngũ Hoa, có áo Bạch Cừu giá ngàn vàng

Sẽ sai con trẻ đem đi đổi lấy rượu ngon về ,

Để cùng các anh giết mối sầu vạn cổ.”



Dịch thơ



CHUỐC RƯỢU NHAU



Thấy chăng anh nước Hoàng Hà,

Ḍng cao cuồn cuộn tuôn sa lưng trời,

Thẳng đường sông đổ ra khơi,

Đă ḥa biển cả có hồi lại đâu.

Lại xem tóc bạc mái đầu,

Lầu cao đối bóng ḷng sầu bởi ai,



Sớm mai tơ tóc xanh dài,

Chiều hôm con tóc trắng dày tuyết sương,

Nhân sinh đắc ư không thường,

Chén quỳnh cạn chớ để vương trăng lồng

Trời sinh ta hẵn sẽ dùng

Ngàn vàng tiêu sạch những mong lại đầy,



Uống ba trăm chén cùng say,

Sầm, Đan ai ngại chén đầy chén vơi,

V́ anh ca một khúc chơi,

Xin anh nghe chính mỗ lời hát vang

Thôi trống ngọc chẳng chuông vàng,

Uống say túy lúy chẳng màng tỉnh chi,



Xưa nay hiền thánh c̣n ǵ

Nổi danh tiên túy tên ghi cùng đời,

Trần Vương B́nh Lạc cuộc chơi,

Yến vui rượu đấu hơn mười ngàn bôi,

Tiền tiêu chủ há ngại lời

Rượu mau tiếp nữa anh tôi uống tràn

Ngựa năm sắc áo cừu vàng,

Mau đi đổi lấy rượu ngon đem về,

Mối sầu vạn cổ tái tê.





THẤT NGÔN NHẠC PHỦ



THANH B̀NH ĐIỆU

I

Vân tưởng y thường hoa tưởng dụng

Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng

Nhược phi Quần Ngọc Sơn đầu kiến

Hội hướng dao đài nguyệt hạ phùng.

II

Nhất chi hồng diễm lộ ngưng hương

Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường

Tá vấn Hán cung thuỳ đắc tự ?

Khả liên Phi Yến ỷ tân trang

III

Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương quan

Thường đắc quân vương đái tiếu khan

Giải thích xuân phong vô hạn hận

Trầm hương đ́nh bắc ỷ lan can



Quần Ngọc Sơn : Một ngọn núi tương truyền Tây Vương mẫu ở.

Dao đài : Lâu đài bằng ngọc dao. Nơi tiên nữ ở.

Phi Yến : Tức Triệu Phi Yến. Vua Hán Thành đế cho triệu vào cung, được sủng ái, sau lập làm hậu.

Trầm Hương đ́nh :Tên một cái đ́nh ở phía đông hồ Hưng Khánh, nơi đây Đường Minh Hoàng và Dương Quư Phi thường dùng làm nơi thưởng hoa.



Dịch nghĩa

ĐIỆU NHẠC THANH B̀NH

I

Nh́n sắc mây cứ ngỡ là xiêm y, nh́n hoa lại nhớ đến sắc đẹp của nàng (Dương Quí Phi)

Gió xuân thổi bên cửa sổ, sương móc nồng đượm

Nếu nhưng chẳng thấy được nàng trên đỉnh Quần Ngọc Sơn

Th́ chắc sẽ gặp nàng dưới ánh trăng nơi Dao đài vậy.

II

Một cành thược dược thắm đẹp sương phủ đọng lại hương thơm

Cái thú mây mưa của Vua Sở nơi Vu Sơn, một việc làm vô ích khiến nàng nghĩ đến cảnh đoạn trường.

Thử hỏi xem trong cung nhà Hán có ai được giống nàng ?

Đáng tiếc là Triệu Phi Yến nhưng cũng phải dựa vào việc điểm trang

III

Cánh hoa diễm lệ cùng với sắc đẹp nghiêng nước cả hai đều là mối t́nh đẹp đẽ.

Nên thường được nhà vua ngắm nghía tươi cười

Nhà vua muốn giải trừ nỗi buồn vô hạn của gió xuân thổi lại

Nên mới cùng nàng đứng tựa lan can phía bắc đ́nh Trầm Hương để ngắm cảnh sắc trong ngự viên



Diễn thơ



THANH B̀NH ĐIỆU 2

Xiêm y lộng lẫy ráng mây

Hoa xuân mơn mởn hây hây má đào

Ví không dật nữ đài Dao 2

Hẳn người hội Ngọc non cao trăng rằm.



Một cành sương đọng hương đưa

Non Vu khuya sớm mây mưa nát ḷng

Hỏi người tuyệt sắc Hán cung

Khá thương Phi Yến 3 nhọc ḷng tân trang



Danh hoa khuynh quốc khoe tươi.

Đ́nh Trầm hương đứng mỉm cười ngất ngây

Quân Vương lặng ngắm đắm say

Gió xuân giải muộn sầu bay cuối trời.

mucdong
02-13-2008, 01:38 AM
THẤT NGÔN TUYỆT CÚ



TỐNG MẠNH HẠO NHIÊN

CHI QUẢNG LĂNG



Cố nhân tây từ Hoàng hạc lâu

Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu

Cô phàm viễn ảnh bích không tận

Duy kiến Trường giang thiên tế lưu.



Quảng lăng : Tức Dương Châu, nay là huyện Giang Đô tỉnh Giang Tô

Hoàn hạc lâu : Một danh thắng của huyện Vơ Xương, tỉnh Hồ Bắc.

Yên hoa : Hoa khói, ở đây dùng để ví với nơi phồn hoa đô hội.

Thiên tế : Bên trời



TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN

ĐẾN QUẢNG LĂNG

Bạn cũ từ phía tây lầu Hoàng Hạc lên đường

Tháng ba hoa xuân tựa khói bạn đến Châu Dương

Bóng cánh buồm xa khuất trong khoảng không xanh biếc

Chỉ thấy Trường giang chảy cuối trời



TẶNG UÔNG LUÂN

Lư Bạch thừa chu tương dục hành

Hốt văn ngạn thượng đạp ca thanh

Đào Hoa đàm thuỷ thâm thiên xích

Bất cập Uông Luân tống ngă t́nh.



Đạp ca thanh : Một điệu hát, vừa hát vừa giậm chân làm nhịp, nghe rất buồn.

Đào Hoa : Tên một đầm nước nổi tiếng là rất sâu, thuộc huyện Túc Tùng tỉnh An Huy.



TẶNG UÔNG LUÂN

Lư Bạch ta vừa định dời thuyền đi

Bỗng nghe trên bờ có tiếng ai vừa nhịp chân vừa hát

Nước đầm Đào Hoa sâu đến ngàn thước.

Nhưng làm sao bằng được tấm thịnh t́nh của Uông Luân lúc tiễn ta.




HẠ GIANG LĂNG

Triêu từ Bạch Đế thải vân gian

Thiên lư Giang lăng nhất nhật hoàn

Lưỡng ngạn viên thanh đề bất trụ

Khinh châu dĩ quá vạn trùng san.



Chú thích:

Giang lăng : Thời nhà Đường thuộc đạo Sơn nam, nay là huyện Giang lăng.

Bạch đế : Thành Bạch đế tại huyện Phụng Tiết tỉnh Tứ Xuyên.



Dịch nghĩa :



XUỐNG GIANG LĂNG

Buổi sáng sớm ta từ biệt thành Bạch đế trong làn mây đẹp

Phải vượt một ngàn dặm trong một ngày để về tới Giang Lăng

Tiếng vượn hú ở hai bên bờ vang măi không dứt

Ngồi trong chiếc thuyền nhẹ ta vượt qua ngàn trùng núi non.





THẤT NGÔN LUẬT THI



ĐĂNG KIM LĂNG PHƯỢNG HOÀNG ĐÀI

Phượng hoàng đài thượng phượng hoàng du

Phượng khứ đài không gian tự lưu

Ngô cung hoa thảo mai u kính

Tấn đại y quan thành cổ khâu

Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại

Nhị thuỷ trung phân Bạch lộ châu

Tổng vị phù vân năng tế nhật

Trường An bất kiến sử nhân sầu.



Phượng Hoàng đài : Một đài cao toạ lạc ở phía nam huyện Giang Ninh, tỉnh Giang Tô.

Ngô cung : Cung điện nước Ngô do Ngô Tôn Quyền xây

Tấn đại y quan : Aùo mũ của quan lại vua chúa thời Tấn

Cổ khâu : G̣ đống hoang vu.

Tam sơn : Núi này ở phía Tây nam thành Kim Lăng, nhân v́ núi có 3 đỉnh nối liền nam Bắc theo thứ lớp nên có tên trên.

Nhị thuỷ : tức là hai sông Tần và Hoài. Sông này xuất phát từ sông Lật đến Kiến Khương phân thành hai nhánh; một nhánh chảy vào thành, c̣n một nhánh chảy ṿng ngoài thành v́ thế mới có tên gọi “Nhị thuỷ”.

Bạch Lộ Châu : Tên một băi cát giữa sông Tần Hoài ở phía Tây nam thành Kim Lăng trên sông Trường Giang.

Câu 7 : Câu này ám chỉ vua bị bọn gian thần (phù vân) che mắt nên chẳng thấy thấy được sự thật ở bên ngoài.





LÊN CHƠI ĐÀI PHƯỢNG HOÀNG Ở KIM LĂNG

Ngày xưa chim phượng hoàng thường hay đậu chơi trên đài Phượng,

Chim Phượng Hoàng đi rồi, c̣n trơ lại đài vắng, con sông nước vẫn chảy xuôi ḍng.

Cỏ hoa cung Ngô xưa nay đă bị chôn vùi nơi con đường nhỏ hoang liêu

Áo mũ đời Tấn nay cũng đă thành g̣ đống hoang vu

Ngọn Tam Sơn xa xa một nữa lẫn vào khoảng trời xanh

Ở giữa hai ḍng sông phân nhánh là băi Bạch lộ

Chỉ v́ đám mây nổi trên trời che kín vầng thái dương

Làm ta không thấy thành Trường An khiến trong ḷng buồn bă.



1. Tên một điệu hát cổ. Đường Minh Hoàng và Dương quí phi thưởng hoa, Lư Bạch được vời đến nhờ đặt lời thơ mới cho khúc hát xưa.

2. Sở từ : “Vọng Dao đài chi yến, kiến hề Hửu Nhung chi dật nữ ” (trông lên đài Dao, thấy người đẹp tuyệt sắc họ Hữu Nhung).

mucdong
02-13-2008, 01:39 AM
B. THƠ DO CAO BÁ VŨ TUYỄN DỊCH


TẶNG NỘI

Tam bách lục thập nhật

Nhật nhật tuư như nê

Tuy vi Lư Bạch phụ

Hà dị Thái thường thê.



TẶNG VỢ

Ba trăm sáu chục ngày vàng

Sớm chiều Lư Bạch rượu tràn cung mây

Có chồng tuư luư đêm ngày

Khác ǵ nội tướng của ngài họ Chu 1



SƠN TRUNG VẤN ĐÁP

Vấn dư hà sự thê bích san

Tiếu nhi bất đáp tâm tự nhàn

Đào hoa lưu thuỷ diểu nhiên khứ

Biệt hữu thiên địa phi nhân gian



HỎI ĐÁP TRÊN NÚI

Cớ chi lên ẩn núi cao

Nghe không đáp khẽ nghiêng đầu cười khan

Hoa đào suối biếc thanh nhàn

Đất trời đây khác nhân gian đợi chờ.



DỮ SỬ LANG TRUNG ẨM

THÍNH HOÀNG HẠC LÂU THƯỢNG XUY ĐỊCH

Nhất vi “Thiên khách” khứ Trường Sa

Tây vọng Trường An bất kiến gia

Hoàng hạc lâu trung xuy ngọc địch

Giang thành ngũ nguyệt “Lạc mai hoa”



CÙNG QUAN LANG TRUNG HỌ SỬ UỐNG RƯỢU

NGHE SÁO TRÊN LẦU HOÀNG HẠC

Một phen “Thiên khách” Trường Sa

Trường An mỏi mắt t́m nhà hướng tây

Lầu Hoàng hạc sáo ngân dài

Giang thành nhớ khúc “Hoa mai rụng ” buồn.





XUÂN DẠ LẠC THÀNH VĂN ĐỊCH

Thuỳ gia ngọc địch ám phi thanh

Tán nhập xuân phong măn Lạc thành

Thử dạ khúc trung văn “Chiết liễu ”

Hà nhân bất khởi cố viên t́nh



ĐÊM XUÂN NGHE SÁO TẠI LẠC THÀNH

Đâu đây sáo ngọc vẳng xa

Gió xuân hoà nhập lan ra Lạc thành

Nỉ non “Chiết liễu ly đ́nh ”

Ai không ngơ ngẩn động t́nh hoài hương.

*

XUÂN TỨ

Yên thảo như bích ti

Tần tang đê lục chi

Đương quân hoài qui nhật

Thị thiếp đoạn trường th́

Xuân phong bất tương thức

Hà sự nhập la vi



XUÂN TỨ

Cỏ Yên xanh biếc như tơ

Dâu Tần mơn mởn ngă bờ sông xuân

Đang khi chàng mộng hương quan

Chính là lúc thiếp rộn ràng ḷng xuân

Gió xuân sao chẳng biết thân

Mon men dám lọt pḥng xuân ghẹo người



KẾT MIỆT TỬ

Cựu uyển hoang đài dương liễu tân

Lăng ca thanh xướng bất thăng xuân

Chỉ kim duy hữu Tây giang nguyệt

Tằng chiếu Ngô vương cung Lư nhân



THĂM CỔ TÍCH ĐÀI CÔ TÔ

Liễu xuân thắm đài xưa tàn

Lăng ca vẳng tiếng thở than năo nùng

Trăng Tây giang vẫn lạnh lùng

Từng soi người đẹp Ngô cung thuở nào.



***

THU PHỐ CA

Bạch phát tam thiên trượng

Ly sầu tự cá trường

Bất tri minh kính lư

Hà xứ đắc thu sương



BÀI CA THU PHỐ

Ly sầu tóc trắng dài bay

Tóc dài bao trượng sầu dài bấy nhiêu

Gương soi tóc úa đă nhiều

Sương thu đâu đến nặng gieo mái đầu.





ĐỘC TOẠ KÍNH Đ̀NH SƠN

Chúng điểu cao phi tận

Cô vân độc khứ nhàn

Tương khan lưỡng bất yếm

Chỉ hữu Kính đ́nh san





NGỒI MỘT M̀NH TRÊN NÚI KÍNH Đ̀NH

Chim trời bay tít ngàn khơi

Mây trời thơ thẩn lẻ trôi bồng bềnh

Giữa trời ta với Kính đ́nh

Lắng sâu mắt biếc lặng nh́n đăm đăm.



KƯ VIỄN

Mỹ nhân tại thời hoa măn đường

Mỹ nhân khứ hậu dư không sàng

Sàng trung tú bị quyển bất tẩm

Chí kim tam tải văn dư hương

Hương diệc cánh bất diệt

Nhận diệc cánh bất lai

Tương tư hoàng diệp lạc

Bạch lộ thấp thanh đài.



GỬI NGƯỜI ĐĂ ĐI XA

Người đẹp c̣n đây nhà đầy bông

Người đi rồi giường chiếu bỏ không

Lạnh lùng giường,đệm nào ai ngủ

Thoắt đă ba năm hương vẫn nồng

Hương xưa thơm không dứt

Người đi chẳng thấy về

Nhớ nhau lá vàng rụng

Sương trắng đẩm rêu xanh.



CỔ PHONG

Đăng cao vọng tứ hải

Thiên địa hà man man

Sương bị quần vật thu

Phong phiêu đại hoang hàn

Vinh hoa đông lưu thuỷ

Vạn sự giai ba lan

Bạch nhật yếm tồ huy

Phù vân vô định đoan

Ngô đồng sào yến tước

Chỉ cức thế uyên loan

Thả phục qui lai khứ

Kiếm ca hành lộ nan.



CỔ PHONG

Trời thăm thẳm đất thênh thang

Trông vời bốn bể mênh mang muôn trùng

Sương thu nhạt núi mờ sông

Gió thu rét buốt lạnh lùng tuyết rơi

Sang giàu bọt nổi nước trôi

Thăng trầm thế sự đầy vơi sóng trào

Mịt mờ mây toả trời cao

Tai ngơ mắt lấp biết đâu nỗi này

Phượng hoàng nương náu cỏ gai

Tung tăng bầy sẽ tả tơi ngô đồng

Vỗ gươm trừng mắt hát ngông

Về thôi thôi thế c̣n trông nỗi ǵ.



TẦM HỨA SƠN NHÂN BẤT NGỘ

Ngă trâm truyền xá thi

Lai phỏng tiên nhân cư

Yên tĩnh mê cao tích

Vân lâm cách thái hư

Khuy đ́nh đăn tiêu sách

Yû trượng kiến trù trừ

Ưng hoá liêu thiên hạc

Quy đương thiên tuế dư



T̀M HỨA SƠN NHÂN KHÔNG GẶP

Dừng chân truyền xá ngâm thơ

T́m nơi cao ẩn ngẩn ngơ hướng nào

Xanh mờ khói phủ non cao

Trắng phau mây toả lối vào Thiên Thai

Sân rêu quanh quẩn đứng ngồi

Thảo am nào thấy bóng người vào ra

Dường như cỡi hạc chơi xa

Ngàn năm tiên mới ghé qua một lần.



TỐNG HẠ GIÁM QUI TỨ MINH

Cửu từ vinh lộc toại sơ y

Tằng hướng trường sinh thuyết tức ky

Chân quyết trực ṭng Mao thị đắc

Ân ba ưng thuận hứa Động Đ́nh Quy

Dao đài hàm vụ tinh thần măn

Tiên kiệu phù không đáo dữ vi

Tá vấn dục thê châu thụ hạc

Hà niên khước hướng đế thành phi.



TIỄN QUAN BÍ THƯ GIÁM HỌ HẠ VỀ TỨ MINH

Giă từ tước lộc vinh hoa

Thản nhiên áo vải thẳng ra Động Đ́nh

Hướng tâm trọn đạo trường sinh

Cưỡi rồng 1 nối chí chân kinh sáng ḷng

Đài Dao siêu thoát bụi hồng

Ngao du nước Nhược non Bồng thảnh thơi

Phiêu diêu cánh hạc lưng trời

Bao giờ hạ cố ghé chơi đế thành.

[1]

ĐỀ ĐÔNG KHÊ CÔNG U CƯ

Đỗ lăng hiền nhân thanh thả liêm

Đông khê bốc trúc tuế thời yêm

Trạch cận thanh sơn đồng Tạ Diễu

Môn thuỳ bích liễu tự Đào Tiềm

Hảo điểu nghinh xuân ca hậu viện

Phi hoa tống tửu vũ tiền thiềm

Khánh đáo đăn tri lưu nhất tuư

Bàn trung chỉ hữu thuỷ tinh diêm.



ĐỀ THƠ CHỖ Ở U TỊCH CỦA ĐÔNG KHÊ CÔNG

Hiền nhân cao khiết nổi danh

Đông khê khéo dựng lều tranh ẩn ḿnh

Nhà Huyền Huy dựa non xanh

Cổng Uyên Minh liễu buông mành thướt tha

Hoa đua nở chim hoan ca

Bầu tiên đă cạn túi thơ vẫn đầy

Ân cần mời khách vui say

Đậm đà t́nh bạn muối bày trắng mâm



QUAN SAN NGUYỆT

Minh nguyệt xuất Thiên san

Thương mang vân hải gian

Trường phong kỷ vạn lư

Xuy độ Ngọc môn quan

Hán há Bạch Đăng đạo

Hồ khuy Thanh hải loan

Do lai chinh chiến địa

Bất kiến hữu nhân hoàn

Thú khách vọng biên sắc

Tư quy đa khổ nhan

Cao lâu đương thử dạ

Thán tức vị ưng nhàn



TRĂNG BIÊN ẢI

Trăng vươn lên đỉnh Thiên san

Trăng bay ra bể trăng tràn qua mây

Trăng đi muôn dặm đường dài

Trăng theo quân Hán ra ngoài Bạch Đăng

Trăng từ Thanh hải trông sang

Trại Hồ lẫn bóng chúng đang rập ŕnh

Trăng soi bao kẻ chiến chinh

Trăng buồn “THẬP TỬ NHẤT SINH” đau ḷng

Trăng nh́n gối lẻ khuê pḥng

Trăng về “ải ngọc” lạnh lùng tuyết bay

Chinh phu đâu đó có hay

Quê nhà chinh phụ đêm nay đang chờ.



GIANG THƯỢNG NGÂM

Mộc lan chi duệ sa đường châu

Ngọc tiêu kim quản toạ lưỡng đầu

Mỹ tửu tôn trung trí thiên hộc

Tái kỹ tùy ba nhiệm khứ lưu

Tiên nhân hữu đăi thừa hoàng hạc

Hải khách vô tâm tùy bạch âu

Khuất B́nh từ phú huyền nhật nguyệt

Sở vương đài tạ không sơn khâu

Hứng hàm lạc bút dao Ngũ nhạc

Thi thành tiếu ngạo lăng Thương Châu

Công danh phú quí nhược trường tại

Hán thuỷ diệc ưng Tây bắc lưu.



KHÚC NGÂM TRÊN SÔNG

Thung thăng thuyền quế chèo lan

Lênh đênh sóng vỗ mênh mang sông dài

Tiêu vàng sáo ngọc xa bay

Giai nhân chuốc chén men say bốc trời

Chim âu khách bể thảnh thơi

Hạc vàng tiên đợi ngang trời tiêu dao

Khuất B́nh văn rạng trời cao

Đền đài vua Sở vùi sâu đất g̣

Lung lay Ngũ nhạc hứng thơ

Cười ngông phóng bút sững sờ Thương châu

Bao giờ sông núi đổi đầu

Công danh phú quí dài lâu với người.



ĐẢO Y THIÊN

Khuê Lư giai nhân niên thập dư

Tần nga đối ảnh hận ly cư

Hốt phùng giang thượng xuân qui yến

Hàm đắc vân trung xích tố thư

Ngọc thủ khai giam trường thán tức

Cuồng phu do thú Giao hà bắc

Vạn lư Giao hà thủy Bắc lưu

Nguyện vi song điểu phiếm trung châu

Quân biên vân ủng thanh ty kỵ

Thiếp xứ đài sinh hồng phấn lâu

Lâu thượng xuân phong nhật tương yết

Thuỳ năng lăm kính khan sầu phát

Hiểu xuy huân quản tuỳ lạc hoa

Dạ đảo nhung y hướng minh nguyệt

Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường

Trân châu liêm bạc yểm lan đường

Huỳnh thuỳ bảo ác đồng tâm kết

Bán phất quỳnh diên tô hợp hương

Quỳnh diên bảo ác liên chi cẩm

Đặng chúc huỳnh huỳnh chiếu cô tẩm

Hữu sứ bằng tương kim tiễn đao

Vị quân lưu hạ tương tư chẩm

Trích tận đ́nh lan bất kiến quân

Hồng cân thức lệ sinh nhân uân

Minh niên cánh nhược chinh biên tái

Nguyện tác dương đài nhất đoạn vân



BÀI CA ĐẬP ÁO

Biệt ly mười mấy năm dài

Pḥng khuê lẻ bóng gương soi năo ḷng

Chợt nh́n én liệng trên sông

Thế là lại một mùa đông nữa tàn

Nhạn ơi có phải thư chàng

Ông chồng cuồng dại miên man ải ngoài

Để người vợ trẻ đợi hoài

Lặng nh́n đôi én lưng trời thênh thang

Mây che chiến mă bóng chàng

Rêu in hài thiếp lầu trang đă ṃn

Trách ai lần nữa ruổi rong

Để ai trằn trọc lạnh lùng sớm khuya

Mây trôi nước chảy qua th́

Mặt này tàn tạ tóc kia úa sầu

Gương buồn liễu ủ ḷng đau

Đập tàn y chẳng thấy đâu hơi chàng

Lậu hồ cạn ánh trăng tan

Rèm châu rủ kín buồng lan thẫn thờ

Màn xưa loan phượng bụi mờ

Chăn xưa t́nh ấm chiếu xưa hương nồng

Xưa sao khăng khít dải đồng

Mà nay bóng lẻ nến hồng lệ rơi

Nhạn ơi cậy gửi đôi lời

Ngày đêm thêu gối trông vời ải xa

Tháng năm ṃn mỏi mong chờ

Khăn hồng đẫm lệ ngẩn ngơ nhớ chàng

Chàng c̣n rong ruổi chiến trường

Mộng hồn thiếp nguyện quyện nương bóng chàng



TÁI HẠ KHÚC


Ngũ nguyệt Thiên sơn tuyết

Vô hoa chỉ hữu hàn

Địch trung văn “Chiết liễu”

Xuân sắc vị tằng khan

Hiểu chiến tuỳ kim cổ

Tiêu miên băo ngọc an

Nguyện tương yêu hạ kiếm

Trực vĩ trảm Lâu Lan




Thiên binh há Bắc hoang

Hồ mă dục Nam ẩm

Hoành qua ṭng bách chiến

Trực vị hàm âm thâm

Ác tuyết hải thượng xan

Phất sa lũng đầu tẩm

Hà đương phá Nguyệt Chi

Nhiên hậu phương cao chẩm




Tuấn mă như phong biều.

Minh tiên xuất Vị kiều

Loan cung từ Hán nguyệt

Sáp vũ phá thiên kiêu

Trận giải tinh mang tận

Doanh không hải vụ tiêu

Công thành hoạ Lân các

Độc hữu Hoắc phiêu diêu.




Bạch mă Hoàng kim tái

Vân sa nhiễu mộng tư

Na kham sầu khổ tiết

Viễn ức biên thành nhi

Huỳnh phi thu song măn



5.

Nguyệt độ sương khuê tŕ

Tồi tàn ngô đồng diệp

Tiêu táp sa đường chi

Vô thời độc bất kiến

Lệ lưu không tự tri

Tái lỗ thừa thu há

Biên nguyệt tuỳ cung ảnh

Thiên binh xuất Hán gia

Tướng quân phân hổ trúc

Chiến sĩ ngoạ Long sa

Hồ sương phất kiếm hoa

Ngọc quan thù vị nhập

Thiếu phụ mạc trường ta.



6.Phong hoả động sa mạc

Liên chiếu Cam Tuyền vân

Hán hoàng án kiếm khởi

Hoàn triệu Lư tướng quân

Binh khí thiên thượng hợp

Cổ thanh lũng để văn

Hoành hành phụ dũng khí

Nhất chiến tĩnh yêu phân.



KHÚC CA DƯỚI ẢI

Lạnh lùng tuyết trắng Thiên san

Bao năm chiến loạn hoang tàn cỏ hoa

Sáo buồn ly biệt xót xa

Bặt tăm xuân sắc mịt mờ lửa binh

Ngày vang trống thúc quân hành

Đêm ôm yên ngựa giật ḿnh tan mơ

Vung gươm xông trận cướp cờ

Chém đầu tướng giặc dâng vua thoả ḷng.

Ngựa Hồ ḍm ngó bờ Nam

Hán binh hướng Bắc hận tràn vùng lên

Ầm ầm trống trận vang rền

Nhẹ gieo non Thái quyết đền ơn vua

Ăn rêu uống tuyết ngủ bờ

Vào sinh ra tử xông pha chẳng sờn

Lửa dập tắt khói quét tan

Dẹp yên giặc dữ mới an giấc nồng.

Thét roi tung mạnh vó câu

Thẳng rong cầu Vị ào ào tiến binh

Giương cung vung kiếm tung hoành

Quyết phơi đầu giặc quyết phanh xác thù

Khói tàn lửa tắt sao mờ

Địch quân tan tác trại thù tan hoang

Lâu đài huân nghiệp vẻ vang

Tài trai họ Hoắc vinh quang muôn đời.

Bạch câu ruổi thẳng Hoàng kim.

Cát bay đá chạy mộng ch́m mơ tan

Đau thương oán hận ngập tràn

Sầu dài viễn thú chinh nhân nhớ nhà

Trăng mờ gió lạnh sương sa

Lập loè lửa đóm vào ra khuê pḥng

Vàng rơi trơ trụi ngô đồng

Đào phai mận nhạt sen hồng xác xơ

Đêm đêm chinh phụ ngóng chờ

Ḷng đau dạ xót ngẩn ngơ lệ nhoà

Giặc Hồ ŕnh rập thừa cơ

Hán quân hùng dũng phất cờ tập công

Nguyên nhung trướng hổ hợp đồng

Chiến binh đêm lạnh vẫy vùng đồng hoang

Gươm đao lấp lánh trăng vàng

Kiếm cung trắng xoá ngút ngàn tuyết bay

Ngọc môn quan vẫn c̣n đây

Hỡi người vợ trẻ chớ dài lời than

Bừng bừng lửa rực cát hoang.

Khói đen mờ mịt Cam toàn ám mây

Hán hoàng tuốt kiếm ra tay

Cho vời Nguyên soái đến ngay bệ rồng

Nghiêm quân lệnh tuyển tướng hùng

Kéo cờ thúc trống vẫy vùng ải xa

Giặc tàn bạo quyết chẳng tha

Binh trời xuất trận yêu ma tan tành

mucdong
02-13-2008, 01:40 AM
C. THƠ DO TÙNG THIÊN TUYỂN DỊCH




NGUYỆT HẠ ĐỘC CHƯỚC I

Hoa gian nhất hồ tửu,

Độc chước vô tương thân,

Cử bôi yêu minh nguyệt,

Đối ảnh thành tam nhân,

Nguyệt kư bất giải ẩm,

Ảnh đồ tùy ngă thân,

Tạm bạn nguyệt tương ảnh,

H́nh lạc tu cập xuân,

Ngă ca nguyệt bồi hồi,

Ngă vũ ảnh linh loạn,

Tỉnh thời đồng giao hoan,

Túy hậu các phân tán,

Vỉnh kết vô t́nh du,

Tướng kỳ mạc Vân Hán.



DƯỚI TRĂNG UỐNG RƯỢU MỘT M̀NH I

Một bầu rượu giữa trăm hoa,

Lẻ loi bóng chiếc ai là người thân,

Nâng ly mời ánh sáng trăng,

Trăng, ta cùng với bóng ḿnh thành ba,

Trăng nào biết rượu ẩn hoa,

Riêng ta với bóng vẫn là bạn thân,

Đối trăng vui bóng quẩn quanh,

Cùng vui với bước xuân t́nh đến chơi,

Ta ca trăng cũng bồi hồi,

Lung linh ta bóng ngả đôi bộ hành,

Tỉnh cùng nhau măi giao hoan,

Say đi phân cách muôn đàng tiêu tương,

Vô t́nh kết bạn vĩnh hằng,

Hẹn nhau Vân Hán- bóng, chàng, trăng- chơi



NGUYỆT HẠ ĐỘC CHƯỚC II

Thiên nhược bất ai tửu,

Tửu tính bất tại thiên,

Địa nhược bất ái tửu,

Địa ưng vô sở tuyền,

Thiên địa kư ái tu,

Aùi tửu bất qui thiên,

Dĩ văn thanh tỉ thánh,

Phục đạo trọc như hiền,

Hiền thánh kư dĩ ẩm,

Hà tất cầu thần tiên?

Tam bôi thông đại đạo,

Nhất đấu hợp tự nhiên,

Đăn đắc thủy trung thủ,

Vật vi tỉnh giả truyền





DƯỚI TRĂNG UỐNG RƯỢU MỘT M̀NH II

Nhược bằng trời, rượu chẳng ưa,

Ngẫm hay tính rượu phải chừa trời ra,

Nhược bằng đất, rượu chẳng mê,

Th́ đâu dấu suối rượu hề bên trong,

Cho hay trời đất rượu nồng,

Ta say hơi rượu cũng đồng thẹn chi,

Trong như bậc thánh rượu nghe,

Đục như hiền giả trong khe rượu tràn,

Thánh hiền chuốc rượu chứa chan,

Đă say ai lại cầu đàng thần tiên,

Ba ly, đường lớn thông thiên,

Uống càn một chén tự nhiên hợp t́nh,

Mong cầu thú rượu cao thanh,

Dầu ai tỉnh mộng mặc t́nh khen chê



NGUYỆT HẠ ĐỘC CHƯỚC III

Tam nguyệt Hàm Dương thành,

Thiên hoa trú như cẩm,

Thùy năng xuân độc sầu,

Đối thử kính tu ẩm,

Cùng thông dữ tu đoản,

Tạo hóa túc sở bẩm,

Nhất tôn tề tử sinh,

Vạn sự cố nan thẩm,

Túy hậu thất thiên địa,

Ngột nhiên tựu co chẩm,

Bất tri hửu ngô thân,

Thử lạc tối vi thậm



DƯỚI TRĂNG UỐNG RƯỢU MỘT M̀NH III

Hàm Dương tiết đẹp tháng Ba

Nở tràn như gấm ngàn hoa khoe màu

Biết ai là kẻ xuân sầu

Trong men rượu ngẫm một bầu sắc không

Ngắn dài theo bước cùng thông

Cho hay tạo hóa sẵn trong an bài

Một ly sống chết gồm hai

Khó khăn muôn việc ai tài lường đong

Say quên trời đất thong dong

Nằm lăn ôm gối mà ḷng thảnh thơi

Quên thân chẳng biết việc đời

Vui ta, vui đạo, lư trời thâm sâu.



1) Thủ Dương: tên một ngọn núi, nơi Bá Di, Thúc Tề ở ẩn, sau chết đói

2) Nhan Hồi: tức thầy Nhan Hồi, học tṛ của Đức Khổng Phu Tử, tuy nhà nghèo nhưng luôn vui vẻ với đạo lành



NGUYỆT HẠ ĐỘC CHƯỚC IV

Cùng sầu thiên vạn đoan,

Mỹ tửu tam bách bôi,

Sầu đa tửu tuy thiểu,

Tửu khuynh sầu bất lai,

Sở dĩ tri tửu thánh

Tửu hàm tâm tự khai,

Từ lúc ngọa Thủ Dương,

Lủ không ư Nhan Hồi,

Đang đại bất lạc ẩm,

Hư danh an dụng tai,

Giải ngao tức kim dịch,

Tao khâu thị Bồng Lai,

Thả tu ẩm mỹ tửu,

Thừa nguyện túy cao đài



DƯỚI TRĂNG UỐNG RƯỢU MỘT M̀NH IV

Cơi sầu muôn vạn mối tơ,

Ba trăm chén rượu ngon chờ ai đây,

Sầu nhiều rượu ít chờ say,

Mong sao chén rượu ngăn ngay thành sầu,

Uống say thánh rượu quen nhau,

Ḷng say ta mở ḍng sầu chứa chan,

Mặc ai chê thóc Thủ Dương,

Ghe phen bụng đói c̣n thương Nhan Hồi,

Đời không lạc thú rượu chơi,

Hư danh để lại ai cười ai đây?

Này cua ngọt, này rượu đầy,

Chén say chén tỉnh Bồng Lai ta về,

Rượu ngon nâng chén thỏa thuê,

Đài Cao nương bóng trăng hề say theo.



XUÂN NHẬT TÚY KHỞI NGÔN CHÍ

Xử thế nhược đại mộng,

Hồ vi lao kỳ sinh? .

Sở dĩ chung nhật túy,

Đồi nhiên ngọa tiền doanh,

Giác lai miện đ́nh tiền,

Nhất điểu hoa gian minh,

Tá vấn thử hà nhật,,

Xuân phong ngữ lưu oanh,

Cảm chi dục thán tức,

Đối chi hoàn tự khuynh,

Hạo ca đăi minh nguyệt,

Khúc tận dĩ vong t́nh



NGÀY XUÂN TỈNH RƯỢU NÓI VỚI M̀NH

Cuộc đời như giấc chiêm bao

Sao ta lao khổ đêm ngày ích chi?

Suốt ngày túy luư ta đi,

Trước hiên ta vẫn li b́ giấc hoang,

Tỉnh ra sân trước mơ màng,

Trong hoa nghe tiếng chim vàng lân la,

Hỏi xem ngày tháng nào à?

Gió Xuân mang tiếng oanh ca thoảng ngoài,

Cảm ḷng than thở ǵ đây?

Lại nghiêng hồ rượu cảnh này bóng ta,

Chờ trăng sáng tiếng ai ca,

Vang xong khúc hát t́nh đà quên nhau.



TỐNG HUY NHÂN

Thanh Sơn hoành bắc quánh

Bạch thuỷ nhiễu đông thành

Thử địa nhất vi biệt

Cô bồng vạn lư chinh

Phù vân du tử ư

Lạc nhật cố nhân t́nh

Huy thủ tự tư khứ

Tiêu tiêu ban mă minh



TIỂN BẠN

Hoành ngang ải bắc núi xanh

Thành Đông lụa bạc lượn quanh một ḍng

Một lần từ biệt đôi ḷng

Xa xôi muôn dặm cỏ bồng lẻ loi

Ư du tử cuộn mây hời

T́nh xưa du tử tựa trời hoàng hôn

Vẫy tay ḷng những hiu buồn

Ĺa đàn tiếng ngựa kêu thương năo ḷng



ỨC ĐÔNG SƠN

Bất hướng Đông Sơn cửu,

Tường vi kỷ độ hoa,

Bạch vân hoàn tụ tán,

Minh nguyệt lạc thùy gia.



NHỚ ĐÔNG SƠN

Hèn lâu chẳng viếng Đông Sơn,

Tường Vi độ ấy mấy lần trổ bông?

Hợp tan mây trắng phiêu bồng,

Vầng trăng sáng rụng bên song nhà nào





TỐNG DƯƠNG SƠN NHÂN QUY TUNG SƠN

Ngă hửu vạn cổ trạch

Tung Dương Ngọc Nữ phong

Trường lưu nhất phiến nguyệt,

Quải tại Đông Khê tùng

Nhĩ khứ xuyên tiênthảo

Xương bồ hoa tử nhung.

Tuế văn hoăc tương phỏng

Thanh Thiên kỵ bạch long



TIỄN DƯƠNG SƠN NHÂN VỀ NÚI TUNG

Từ xưa ta có nếp nhà

Trên ngọn Ngọc Nữ,huyện là Tùng dương

Gương trăng sáng măi miên trường

Đông khe treo ngọn cây thônghữu t́nh.

Bạn mau hái cỏ tiên đ

Cây xương bồ đẹp hoa màu tím tươi

“Cuối năm nếu muốn sang chơ

Cưởi con rồng trắng giữa trời thẳm xanh”

“ “ Nguyễn Hữu Bồng

mucdong
02-13-2008, 01:41 AM
E.THƠ DO NGUYỄN DANH ĐẠT TUYỂN DỊCH


TRƯỜNG TƯƠNG TƯ

Trường tương tư, tại Trường An

Lạc vĩ thu đề kim tĩnh lan,

Vi sương thê thê đạn sắc hàn

Cô đăng bất minh tự dục tuyệt,

Quyết duy vọng nguyệt không trường thán !

Mỹ nhân như hoa cách vân đoạn

Thượng hữu thanh minh chi trường thiên,

Hạ hữu lục thuỷ chi ba lan;

Thiên trường địa viễn hồn phi khổ,

Mộng hồn bất đáo quan sơn nạn !

Trường tương tư,

Thôi tâm can.





NHỚ NHAU HOÀI

Nhớ nhau hoài, ở Trường An

Đêm thu tiếng trùng kêu rỉ rả ở nơi lầu vàng

Sương khuya làm tê lạnh cả mặt chiếu

Ngọn đèn cô đơn mờ ảo khiến buồn nảo nuột

Vén bức mành cửa ngắm trăng than với trời cao

Người đẹp như hoa cách xa măi tầng mây

Trên là trời cao thăm thẳm, dưới là sóng cồn mặt nước xanh

Trời cao đất dày hồn phiêu diêu đau khổ,

Mộng hồn khó vượt qua cửa ải.

Nhớ nhau hoài !

Ôi đau !





VỌNG THIÊN MÔN SƠN

Thiên môn trung đoạn Sở Giang khai

Bích thuỷ đông lưu trực bắc hồi

Lưỡng ngạn thanh sơn tương đối xuất

Cô phàn nhất phiến nhật biên lai



Thiên Môn Sơn : Núi Thiên Sơn. Ơû hai bên bờ sông Trường Giang ở huyện Hoà phía Tây và huyện Đường Đồ thuộc tỉnh An Huy.. núi phía bắc sông gọi là tây Lương Sơn, núi phía nam gọi là đông Lương Sơn, cả hai đều kẹp lấy sông Trường Giang.

Sở Giang : Là sông Trường Giang đoạn thuộc vùng Hồ Bắc.Hồ Nam, An Huy. V́ vùng này từng là lănh thổ của nước Sở cổ đại nên gọi là Sở Giang.

Nhật biên : Phía mặt trời lên.





NGẮM NÚI THIÊN MÔN

Núi Thiên Môn bị cắt đứt ở giữa, Sở Giang từ đó tuôn ra.

Ḍng nước trong xanh đang chảy về đông, đến đây quay thẳng về phía bắc

Núi xanh hai bên bờ đối diện cao vút.

Từ phía mặt trời lên một cánh buồm cô đơn đang lướt đến.



MỘNG DU THIÊN MỤ NGÂM LƯU BIỆT

Hải khách đàm Danh Châu

Yên đào vi mang tín nan cầu

Việt nhân ngữ Thiên Mụ

Văn nghê minh diệt hoặc khả đố

Thiên Mụ liên thiên hướng thiên hoành

Thế bạt Ngũ Nhạc yểm Xích Thành

Thiên Thai từ vạn bát thiên trượng

Đối thử dục đảo đông nam khuynh

Ngă dục nhân chi mộng Ngô Việt

Nhất dạ phi độ Kính Hồ nguyệt

Hồ nguyệt chiếu ngă ảnh

Tống ngă chí Diễm Khê

Tạ công túc xứ kim thượng tại

Lục thuỷ đăng dạng thanh viên đề

Cước trước Tạ Công Kĩ

Thân đăng thanh vân thê

Bán bích kiến hải nhật

Không trung văn thiên kê

Thiên nham vận chuyển lộ bất định,

Mê hoa ỷ thạch hốt dĩ minh

Hùng bào long ngâm ân nham tuyền

Lật thâm lâm hề kinh tằng điên

Vân thanh danh hề dục vũ

Thuỷ đạm đạm hề sinh yên

Liệt khuyết tích lịch

Khâu loan băng tồi

Động thiên thạch phi

Oanh nhiên trung khai

Thanh minh hạo đăng bất kiến để,

Nhật nguyệt chiếu diệu kim ngân đài

Nghê vi y hề phong vi mă

Vân chi quân hề phân phân nhi lai há

Hổ cổ sắt hề loan hồi xa

Tiên chi nhân hề liệt như ma

Hốt hồn quí dĩ phách động

Hoảng kinh khởi nhi trường ta

Duy giác thời chi chẩm tịch

Thất hướng lai chi yên hà

Thế gian hành lạc diệc như thử

Cổ lai vạn sự đông lưu thuỷ

Biệt quân khứ hề hà thời hoàn

Thả phóng bạch lộc thanh nhai gian

Tu hành tức kị phỏng danh san

An năng tồi mi chiết yêu sự quyền quí

Sử ngă bất đắc khai tâm nhan !



CHIA TAY ĐỂ LẠI BÀI CA MƠ CHƠI NÚI THIÊN MỤ

Khách đi biển bàn về cảnh tiên ở Doanh Châu,biển đông,

Sóng, khói mênh mang trên biển cả quả khó t́m

Người Chiết Giang nói chuyện núi Thiên Mụ

Mây ráng khi mờ khi tỏ may ra có thể nh́n

Núi Thiên Mụ liền trời chắn ngang trời xanh.

Thế núi vượt cả Ngũ Nhạc, che lấp cả ngọn Xích Thành

Núi Thiên Thai cao một vạn tám ngàn trượng

Đứng trước núi này như muốn nghiêng về phía đông nam

Ta muốn nhân đây để mơ tới đất Ngô Việt



Một đêm nương theo ánh trăng trên hồ gương

Trăng hồ soi bóng ta

Đưa ta đến tận Diễm Khê

TạCông chỗ cũ nay c̣n đó

Lanh lảnh tiếng vượn, nước trong xanh

Chân mang guốc ông Tạ,

Ḿnh theo mây bay đi

Lưng chừng vách đá, thấy mặt trời trên biển,

Giữa lừng nghe tiếng gà trời

Ngàn ngọn núi ṿng vạn lần, đường đi bất định

Mê nh́n hoa, tựa vách đá, trời bỗng tối

Gấu thét, rồng kêu, vang động núi và suối nước

Rừng sâu run sợ, non cao kinh hoàng



Mây xanh xanh muốn mưa

Nước mờ mờ bốc khói

Sét đánh chớp ḷa

Núi g̣ sụt lỡ

Động trời cửa đá

Ầm ầm mở toang

Ṿm trời xanh thẳm mênh mang

Mặt trời mặt trăng chiếu sáng cả lầu bạc gác vàng

Cầu vồng làm áo, gió làm ngựa.

Thần mây rộn ràng bay xuống

Hổ đánh đàn chim loan kéo xe

Người tiên đến đông thật đông



Bổng phách hồn kinh động

Hoảng hốt tỉnh dậy mà than dài

Chỉ thấy gối chăn trơ lúc đó.

Đâu c̣n khói bay ráng đẹp vừa qua

Cảnh vui sướng trên đời cũng thế

Tự xưa muôn chuyện đều như nước chảy về đông



Giă người đi, biết bao giờ về ?

Thả huơu trắng nơi ghềnh đá xanh

Cần đi liền cưỡi rong chơi danh sơn

Há chịu cúi đầu khom lưng thờ phường quyền quí

Khiến tâm ta không sao thanh thản ḷng ?