PDA

View Full Version : văn hóa Việt trong tục ngữ ca dao



mucdong
03-03-2008, 05:49 AM
LTS.- Ông Mặc Giao, một cựu Dân Biểu Việt Nam Cộng Ḥa, nay là một nhà nghiên cứu văn hóa truyền thống dân tộc. Tác phẩm mới nhất của ông vừa được ấn hành và được giới thiệu với đồng hương là cuốn “Một cách nh́n khác về văn hóa Việt Nam”. Trong những kỳ trước, chúng tôi đă trích đăng chương “T́m văn hóa Việt trong tục ngữ ca dao”, phần đầu. Hôm nay, chúng tôi trích đăng tải phần thứ hai của chương này liên quan đến văn hóa Việt trong gia đ́nh.


TỪ GIA Đ̀NH VIỆT NAM...

Gia đ́nh có ông bà, cha mẹ, anh chị em. Đó là những thành phần có liên hệ máu mủ trực tiếp. Việc con cháu phải giữ đạo hiếu với ông bà, cha mẹ, chúng ta đă thấy rơ trong những mục nói về tổ tiên và ảnh hưởng của đạo Khổng. Điều cần nói thêm là bổn phận của cha mẹ đối với con cái. Trước hết là cha mẹ phải thương yêu con cái hết ḷng, dù con cái có lầm lỗi hoặc không xứng đáng. V́ vậy mới có câu “Nước mắt chảy xuôi”. Thứ đến, cha mẹ phải lo nuôi dạy con cái

Nuôi con chẳng dạy chẳng răn
Thà rằng nuôi lợn cho ăn lấy ḷng

Khi nuôi dạy con, cha mẹ phải biết theo dơi và giữ ǵn khi con bước vào tuổi trưởng thành.

Con gái mười bảy không ngủ với cha,
Con trai mười ba chớ nằm cùng mẹ

Lúc con cái lớn lên, tự lập thân hay đă có gia đ́nh, cha mẹ vẫn ở chung để giúp đỡ con cháu. Gánh nặng nhờ có t́nh thương trở nên nhẹ nhàng, nên cha mẹ không nề hà lo việc nhà và nuôi cháu cho con đi kiếm ăn

Một mẹ già bằng ba con ở.

Tuy nhiên hủ tục mẹ chồng nàng dâu trong xă hội Việt Nam xưa, và ở một mức độ nào đó vẫn c̣n tồn tại tới bây giờ, đă phần nào làm sứt mẻ t́nh gia đ́nh giữa cha mẹ và con cái.

Dâu dữ mất họ, chó dữ mất láng giềng.
Đói th́ ăn khế ăn sung
Trông thấy mẹ chồng th́ nuốt chẳng trôi.
Mấy đời nước chảy trên cầu
Yêu nhau đâu có nàng dâu mẹ chồng.
Lồng cồng như mẹ chồng xới xôi
Bát đầy th́ ít, bát vơi th́ nhiều

Hủ tục xung khắc giữa nàng dâu mẹ chồng bắt nguồn từ tâm lư tranh giành t́nh yêu hay phải san sẻ t́nh yêu giữa hai người đàn bà với cùng một đối tượng: người đàn ông con, người đàn ông chồng. Nó cũng thể hiện cái “tiềm thức trả thù” (subconscience of revenge) mà người mẹ chồng âm thầm mang trong ḷng từ khi chịu cảnh làm dâu. Bực bội nhưng không thể nói với ai ngoài việc than thở với chồng. Bề ngoài, con dâu dù có giận hay không ưa mẹ chồng, vẫn phải lễ phép, cư xử đúng địa vị và bổn phận. Ít có người dám lăng loàn căi lại hoặc đối xử tệ với mẹ chồng. Đại đa số v́ yêu chồng, v́ thấm nhuần lễ giáo, nên vẫn hiếu kính cha mẹ chồng như cha mẹ ruột

Dâu hiền nên gái, rể hiền nên trai.
Con gái là con người ta
Con dâu mới thật mẹ cha rước về.
Tôm rồng bóc vỏ bỏ đuôi
Gạo de An Cựu em nuôi mẹ chồng.

Kế đến là t́nh anh chị em trong gia đ́nh. Căn bản của t́nh anh em là cùng chung máu huyết của cha mẹ, như tay với chân

Anh em nào phải người xa
Cùng chung bát mẹ một nhà cùng thân
Yêu nhau như thể tay chân

Anh chị em phải biết đồng cảm, chia vui sẻ buồn với nhau.

Em đau chị cũng buồn rầu
Bé mồm bé miệng kêu đâu bây giờ?

Phải biết giúp đỡ nhau, không sợ thiệt tḥi.

Chị ngă th́ em phải nâng
Đừng thấy chị ngă em bưng miệng cười
Lọt sàng xuống nia,
sểnh vai xuống tay.

Và điều quan trọng không kém là anh chị em phải ḥa thuận, không tranh chấp nhau, trước là giữ t́nh, sau là để cha mẹ vui ḷng

Anh thuận em ḥa là nhà có phúc.
Khôn ngoan đá đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Trong trường hợp người cha mất đi, người anh cả có trách nhiệm thay mặt cha để nuôi nấng và dạy dỗ các em, nếu các em c̣n nhỏ dại, giữ giềng mối gia đ́nh khi các em đă khôn lớn. Đó là ư nghĩa câu “Quyền huynh thế phụ”. Lỡ có điều bất hạnh xảy ra cho anh, chị, th́ các em phải thay anh, chị, chăm nuôi các cháu: “Sảy cha c̣n chú, sảy mẹ nấp vú d́”.
T́nh gia đ́nh con lan ra tới anh chị em họ được coi như thuộc một đại gia đ́nh, một tông tộc. Theo chế độ phụ hệ, họ nội được coi gần hơn họ ngoại

Con cô con cậu th́ xa
Con chú con bác thật là anh em

Nhưng dù nội hay ngoại, dù gần hay xa, đă có liên hệ máu huyết là có liên hệ ḍng tộc: “Giọt máu đào hơn ao nước lă”, phải thương yêu và có t́nh liên đới giúp đỡ lẫn nhau: “Chết một đống hơn sống một người”, “Một người làm quan cả họ được nhờ”, không được phân b́ giàu nghèo khiến thiên hạ chê cười.

Anh em chín họ mười đời
Hai đằng cùng có chẳng rời nhau ra
Chị em cùng khúc ruột rà
Kẻ giàu người khó, họ xa tám đời.

Người Việt Nam rất nặng t́nh gia đ́nh. V́ nặng t́nh như thế, nên có hai điểm nổi bật trong nếp sống gia đ́nh Việt Nam: Thứ nhất, địa vị của người cha rất được trọng vọng. Ông là người chỉ huy việc mưu sinh và điều khiển gia đ́nh. Bà vợ đóng vai phụ tá và chuyên việc “tay ḥm ch́a khóa”. Nếu ông là trưởng tộc th́ địa vị của ông càng quan trọng hơn, v́ ông đứng đầu cả một ḍng họ và có trách nhiệm lo việc hương khói thờ kính tổ tiên. V́ vậy uy quyền của ông rất lớn. Cả nhà, cả họ phải nể ông. Khi ông về già, dù không c̣n kiếm ra của cải, ông vẫn được nể trọng, được con cháu nuôi dưỡng, cung phụng, hỏi ư kiến, xin phép mỗi khi muốn làm việc ǵ quan trọng. Người già ở Việt Nam xưa không cần chế độ hưu bổng, vẫn được bảo đảm về vật chất, vẫn được thương yêu và kính trọng, vẫn có uy quyền tinh thần. Đó là lư do gây ra những xung khắc với con cái khi các cụ sinh sống ở ngoại quốc, cứ muốn được hành xử mọi thứ quyền như ở Việt Nam mà không chịu hiểu rằng hoàn cảnh đă đổi khác. Điểm thứ hai là sự liên đới giữa anh chị em trong đại gia đ́nh, dù họ đă xa tới bốn năm đời, vẫn mật thiết. Chỉ cần dính dáng một chút dây liên hệ gia tộc là đă sẵn sàng dành ưu tiên cho nhau, sẵn sàng giúp đỡ và bênh vực nhau khi cần. Gặp nhau ở một nơi xa làng xă là ơi ới gọi nhau nhận họ, gặp ai cũng khoe là anh chị em, không cần phải xác định là anh chị em đời thứ mấy. T́nh đại gia đ́nh cũng rất nặng đối với người Trung Hoa và một số dân tộc Âu Châu, đặc biệt những giống dân có máu La Tinh như Ư, Pháp, Hy Lạp... Tuy nhiên, các giống dân này c̣n cho phép anh chị em họ trực tiếp (con chú con bác, con cô con cậu con d́) lấy nhau. Dân Việt Nam th́ không.

Vua chúa cấm đoán th́ không
Để đôi con d́ chẳng được lấy nhau.

B́nh thường, từ đời thứ tư anh chị em họ mới được lấy nhau. Sở dĩ vậy là v́ người Việt Nam coi anh em đời thứ nh́ thứ ba quá gần, không khác anh em ruột. “Anh em tám đời” vẫn c̣n thân thiết với nhau, huống chi mới có hai ba đời. T́nh gia đ́nh là một trong những nét nổi bật trong văn hóa Việt Nam.

VỢ CHỒNG....

Đáng lẽ t́nh vợ chồng qua văn chương truyền khẩu được sắp chung với mục T́nh Gia Đ́nh. Chúng tôi tách riêng ra thành một mục khác v́ t́nh vợ chồng trong nếp sống Việt Nam rất đặc biệt, có nhiều điều cần phải tŕnh bày chi tiết hơn.

1/ Không có tự do kết hôn :

Trước đây, trai gái không có quyền tự do kết hôn. Đó không phải là luật lệ của triều đ́nh, nhưng là luật bất thành văn theo luân lư và phong tục. Con trai, con gái đến tuổi lập gia đ́nh, thường rất sớm, trai mười bảy, gái mười ba, khi có thể sinh con, là đă được cha mẹ t́m nơi t́m chỗ dạm hỏi hoặc nhờ mai mối đến xin. Con cái không có quyền chọn và không có quyền từ chối quyết định của cha mẹ. Cũng có những cặp “to gan” dám hẹn ḥ tán tỉnh nhau một cách kín đáo. Nhưng khi quyết định kết hôn với nhau th́ phải về tŕnh cha mẹ. Nếu cha mẹ bằng ḷng th́ chính cha mẹ sẽ đi hỏi và chủ hôn. Nếu cha mẹ lắc đầu, dù chỉ một bên trai hay gái, th́ đôi trẻ có yêu nhau cách mấy cũng bắt buộc phải chia tay. Chữ hiếu phải đặt trên chữ t́nh: “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Đó cũng là ảnh hưởng “Ṭng phụ” theo đạo Khổng. Trong trường hợp đôi trẻ yêu nhau quá thắm thiết, không thể dứt nhau được, chỉ có cách bỏ nhà dẫn nhau đi làm ăn và cưới nhau ở nơi khác, đành “vị t́nh phụ hiếu” và sẽ bị cha mẹ đôi bên từ bỏ.

Chế độ hôn nhân ép buộc như vậy rất khắt khe, nhưng mọi người đều chấp nhận. Ngoài lư do phong tục, người ta c̣n thấy việc xếp đặt này cũng có nhiều điều hay. Trước hết là nhờ cha mẹ có kinh nghiệm, biết nh́n người, nhất là biết và hiểu con ḿnh, nên có thể kiếm nơi “xứng đôi vừa lứa”, thuộc ḍng dơi tốt, thích hợp với con ḿnh cả về tính t́nh, việc làm ăn, lẫn việc sinh sản nối dơi tông đường

Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống.
Mua trâu xem vó, lấy vợ xem ṇi.
Mua thịt th́ chọn miếng mông
Lấy chồng th́ chọn con tông nhà ṇi.

Chính v́ thế mà có nhiều cặp vợ chồng khi mới về ở với nhau rất xa lạ nhau v́ không quen biết nhau trước, nhiều khi không ưa nhau, nhưng lâu dần sẽ quen hơi bén nết, t́nh yêu đến từ từ và họ sẽ trở thành những cặp vợ chồng hạnh phúc nhất trần gian.

Chim quyên ăn trái nhăn lồng
Thia lia quen chậu, vợ chồng quen hơi.
Lấy chồng từ thuở mười lăm
Chồng chê tôi bé không nằm với tôi
Đến khi mười tám đôi mươi
Đang ngủ dưới đất nó lôi lên giường
Một rằng thương hai rằng thương
Có bảy cái thang giường gẫy bốn c̣n ba.

Điều lợi thứ hai là v́ chính cha mẹ chọn, cha mẹ chủ hôn, nên vợ chồng không dám bỏ nhau. Khi cơm không lành, canh không ngọt cũng phải ráng giải ḥa để có thể tiếp tục sống với nhau và làm vui ḷng cha mẹ

Chồng giận th́ vợ bớt lời
Cơm sôi, nhỏ lửa, cả đời không khê.
Chồng giận th́ vợ làm lành
Nồi méo vung méo xoay quanh cũng vừa
Chồng giận th́ vợ làm lành
Miệng cười chúm chím rằng anh giận ǵ?
Thưa anh, anh giận em chi
Muốn lấy vợ bé em th́ lấy cho.

Bên cạnh những điểm tích cực, hôn nhân sắp xếp và cưỡng bách chắc chắn sinh ra lắm điều tiêu cực. Thứ nhất, có những người gả con v́ lợi ích riêng của ḿnh, không phải v́ hạnh phúc của con.

Mẹ tôi tham thúng xôi rền
Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng
Tôi đă bảo mẹ rằng đừng
Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào
Bây giờ chồng thấp vợ cao
Như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

Thứ hai, có một số trường hợp người vợ chẳng may gặp phải ông chồng mất nết, ham rượu chè, cờ bạc, trai gái lăng nhăng. Người vợ vẫn phải cắn răng chịu đựng người chồng ḿnh không chọn lựa và không thể đặt vấn đề ly dị, bỏ chồng, bỏ con.

Chồng em nó chẳng ra ǵ
Tổ tôm, xóc đĩa nó th́ chơi hoang
Nói ra xấu thiếp, hổ chàng
Nó giận nó phá tan hoang cửa nhà.
Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh theo vợ bé bỏ bè con thơ

V́ vậy mới có những câu giận lẫy, hối tiếc của những bà vợ lỡ có chồng hư đốn.

Chồng ǵ anh, vợ ǵ tôi
Chẳng qua là cái nợ đời của nhau
Chồng con là cái nợ nần
Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm.

Ngược lại, cũng có những người chồng là nạn nhân của những bà vợ bắt buộc phải nhận và phải chịu đựng nhiều thói hư tật xấu của vợ như hoang phí, ghen tuông quá độ, không chung t́nh, nhất là tật bắt nạt chồng, đ̣i chồng phải làm mọi thứ theo ư ḿnh, nếu không th́ cảnh gia đ́nh sẽ thành địa ngục.

Em c̣n bánh đúc bẻ ba
Mắm tôm quệt ngược cửa nhà anh tan.
Ta rằng ta chẳng có ghen
Chồng ta ta nghiến ta nghiền ta chơi.
Lẳng lơ th́ cũng chẳng ṃn
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.
Vắng sao hôm có sao mai
Chồng em đi vắng có trai ở nhà
Xưa kia có thế này đâu
Bởi chưng sợ vợ nên râu quặp vào.
Làm trai rửa bát quét nhà
Vợ gọi th́ dạ, bẩm bà con đây.

Một điểm tiêu cực khác của việc cưỡng hôn là tục tảo hôn. Đó là việc những người giàu cưới vợ cho con trai c̣n nhỏ xíu, nhiều khi chỉ có ba, bốn tuổi. Các cô con dâu được cưới về, đúng ra là “mua” về, đều thuộc con nhà nghèo, bị cha mẹ “bán” đi để về làm việc không công cho nhà chồng. Khi chồng khôn lớn th́ vợ sắp sửa về già. Lúc đó phải cưới vợ bé hay nàng hầu cho chồng, trở thành bà cả có quyền uy nhưng đă bỏ phí cả một thời son trẻ

Bồng bồng cơng chồng đi chơi
Đi đến chỗ lội đánh rơi mất chồng
Chị em ơi cho tôi mượn cái gàu ṣng
Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên.
Ham giàu em lấy thằng bé tỉ ti
Làng trên xóm dưới thiếu ǵ trai tơ
Em đem thân cho thằng bé nó giầy ṿ
Mùa đông tháng giá nó nằm co trong ḷng
Mang danh là gái có chồng
Chín đêm trực tiết nằm không cả mười
Nói ra sợ chị em cười
Má hồng bỏ quá thiệt đời xuân xanh
Em cũng liều v́ thằng bé trẻ ranh
Đêm nằm sờ mó quẩn quanh cho đỡ buồn
Buồn t́nh em lại bế thằng bé nó lên
Nó c̣n bé mọn đă nên cơm cháo ǵ
Nó ngủ nó ngáy kh́ kh́
Một giấc đến sáng c̣n ǵ là xuân
Chị em ơi hoa nở mấy lần?

2/ Chung thủy:

Bên cạnh những điểm tốt và xấu của hôn nhân cưỡng ép, t́nh vợ chồng Việt Nam có nhiều đặc tính quư giá khác, đứng đầu là ḷng chung thủy. Chung thủy là ăn ở với nhau lúc đầu như lúc cuối, trước sau như một, cùng chia sẻ mọi nỗi vui buồn, dù gặp hoàn cảnh nào cũng không thay ḷng đổi dạ, lúc nào cũng trung thành với nhau, lúc nào cũng yêu thương nhau, kính trọng nhau như lúc mới: “Tương kính như tân”.

Biểu dương một tấm ḷng son
Thủy chung t́nh nghĩa, vuông tṛn ái ân.
Đôi ta lên thác xuống ghềnh
Em ra đứng mũi để anh chịu sào
Sông Bờ, sông Mă, sông Thao
Ba con sông ấy đổ vào sông Thương.
Rủ nhau xuống bể ṃ cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đă từng
Non xanh nước bạc, ta đừng quên nhau.
Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
Đôi ta như thể con ong
Con quấn con quít, con trong con ngoài
Đôi ta như thể quân bài
Chồng đánh vợ kết chẳng sai quân nào.

Dù có gặp cảnh nghèo cũng chấp nhận, vẫn vui, vẫn hạnh phúc.

Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.
Yêu nhau chẳng quản chiếu giường
Dẫu rằng tàu lá che sương cũng t́nh.

Khi làm ăn khấm khá, có bát ăn bát để th́ cùng chung hưởng, t́nh nghĩa càng thêm đậm đà.

Cơm trắng ăn với chả chim
Chồng đẹp, vợ đẹp, ngồi nh́n cũng no.
Đốt than nướng cá cho vàng
Lấy tiền mua rượu cho chàng uống chơi.

Khi phải xa nhau th́ nhớ nhung, thương nhau phải cô đơn, một thân một ḿnh gánh vác việc bổn phận.

Anh đi đường ấy xa xa
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Anh đi anh nhớ non Côi
Nhớ sông Vỵ Thủy, nhớ người t́nh chung
Quản bao non nước ngại ngùng
Lấy ai san sẻ, gánh gồng đường xa?
Anh đi em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ.

Tính chung thủy trong t́nh vợ chồng của người Việt Nam vẫn tồn tại tới ngày nay. Giữa bao cảnh tử biệt, sinh ly v́ chiến tranh, đói khổ, tù tội, vượt biển, ḷng chung thủy đă được thể hiện sáng ngời, xóa nḥa đi một số ít trường hợp tan vỡ v́ yếu đuối, nhưng đa phần v́ hoàn cảnh gây nên.

3/ Hy sinh:

T́nh nghĩa vợ chồng có được bền lâu, t́nh trạng kinh tế của gia đ́nh có được cải thiện, việc nuôi dạy con cái có được chu đáo hay không đều phải nhờ vào sự cố gắng xây dựng của cả vợ lẫn chồng. Tuy nhiên, người vợ là người nắm ch́a khóa của hạnh phúc gia đ́nh. Nếu chồng hoang phí, không biết giữ của th́ “chồng như cái giỏ, vợ như cáo hom”. Nếu chồng vợ nọ con kia th́ người vợ phải vững tay chèo lái gia đ́nh để chờ chồng hồi tâm quay về với bổn phận:

Dù chàng năm thiếp bảy thê
Th́ chàng cũng không bỏ nái xề này đâu.

Nói tóm lại, bí quyết giữ hạnh phúc gia đ́nh là phải hy sinh. Xem ra người vợ Việt Nam phải hy sinh nhiều hơn. Đó là một đức tính của phụ nữ Việt Nam hay là một sự vinh danh người vợ, người mẹ? Trong tục ngữ, ca dao, chúng ta ít thấy nói tới sự hy sinh của người chồng, nhưng hầu hết đều ca tụng sự hy sinh của người vợ.

Một ngày ba buổi trèo non
C̣n ǵ mà đẹp, mà gịn hỡi anh!
Một ngày ba bữa cơm đèn
C̣n ǵ má phấn, răng đen hỡi chàng!
V́ chàng thiếp phải ṃ cua
Những như thân thiếp th́ mua mấy đồng.
V́ chàng thiếp phải mua mâm
Những như thân thiếp bốc ngầm cũng xong.
V́ chàng thiếp phải long đong
Những như thân thiếp cũng xong một bề.

Có những người vợ vui vẻ chấp nhận cảnh “hai sương một nắng”, lo cày cấy, dệt vải, làm hàng xay hàng sáo, đi chợ hôm chợ mai buôn bán để giúp chồng nuôi sống gia đ́nh, có khi c̣n nuôi chồng ăn học.

Nửa đêm ân ái cùng chồng
Nửa đêm về sáng gánh gồng ra đi.
Bước vào pḥng học gọi chồng
Trở ra sắp gánh sắp gồng ra đi
Không đi th́ chợ không đông
Đi ra một bước, thương chồng, nhớ con.
Canh một dọn cửa dọn nhà,
Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm,
Canh tư bước sang canh năm,
Tŕnh anh dậy học, chớ nằm làm chi...

Người vợ, người mẹ tảo tần nuôi gia đ́nh là h́nh ảnh con c̣ lặn lội đi kiếm ăn ban đêm, lỡ chẳng may bị rơi vào tay kẻ muốn lợi dụng th́ cũng cố nài nỉ xin bảo toàn danh tiết, không muốn để nhục cho con cái.

Con c̣ mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi ông vớt tôi vào
Tôi có ḷng nào ông hăy xáo măng
Có sáo th́ sáo nước trong
Đừng sáo nước đục đau ḷng c̣ con.

Ngoài việc giúp chồng kiếm sống, người vợ c̣n đảm đang lo việc nhà việc cửa, vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con, khiến cô nào muốn rắp ranh “chia sẻ” anh chồng của nàng cũng phải phát sợ.

Đang khi lửa tắt, cơm sôi
Lợn đói, con khóc, chồng đ̣i ṭm tem.
Bây giờ lửa đă cháy lên
Lợn no, con nín, ṭm tem th́ ṭm.
Một tay đun chín bếp rơm
Một tay nạo mướp, chị nhường chồng cho.

Người vợ vất cả như thế nhưng không một lời than phiền. Nếu gặp anh chồng vô tâm, không biết tới công lao của vợ, nàng chỉ nhẹ nhàng nhắc chồng qua việc giận lẫy với con.

Giận chồng mà chẳng bế con
Cha mày làm mất cài ḍn mẹ đi

Chính v́ ḷng chung thủy, v́ đức hi sinh mà t́nh nghĩa vợ chồng càng thêm thắm thiết, đến độ người nọ không thể thiếu người kia.

Con nuôi cha không bằng bà nuôi ong.
Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp.
Gối chăn, gối chiếu chẳng êm
Gối lụa chẳng mềm bằng gối đầu tay.

Tại sao người vợ Việt Nam lại sẵn sàng hi sinh nhiều như thế? Thưa, một phần họ được giáo dục từ nhỏ đức tính quên ḿnh để lo cho người khác. Họ học thực hành từ những tấm gương sống động của bà, của mẹ, của cô d́. Phần khác v́ họ yêu quư chồng và được chồng yêu quư lại.

Nước lên cuốn sáo, nhổ đăng
Trong tay em có ngọc cũng không bằng có anh.
Chồng yêu cái tóc nên dài
Cái duyên nên đẹp, cái nhà nên khôn.
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dăi nắng dầm sương.

Đức hi sinh trong đời sống vợ chồng được thể hiện rơ rệt trong văn chương truyền khẩu. Đó vừa là sự xác định một thực trạng vừa là những bài học để các cặp vợ chồng trông đó mà theo, để rồi từ đó rút ra một kết luận rất tự nhiên: chỉ có hi sinh và quên ḿnh mới xây dựng và bảo vệ được hạnh phúc gia đ́nh.

4/ Địa vị của phụ nữ được nâng cao:

Trong văn hóa Khổng Mạnh được thể hiện ở Trung Hoa, địa vị của phụ nữ rất thấp kém. Người ta coi đàn bà là ngu dốt, khó dạy: “Phụ nhân nan hóa”; coi con gái không đáng kể so với con trai: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”; coi không có con trai nối dơi tông đường là điều bất hiếu lớn nhất: “Vô hậu vi đại”; coi phụ nữ không khác ǵ một đồ vật để sử dụng: hầu hạ, phục vụ sinh lư; hay như một món đồ chơi có thể gọt đẽo theo ư thích: bắt phụ nữ bó chân để tăng khả năng làm t́nh và không thể rời nhà đi ra ngoài. Ngược lại, người Việt Nam tuy cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của đạo Khổng, nhưng lại coi trọng phụ nữ. Dĩ nhiên, việc coi thường phụ nữ cũng có trong xă hội ta, nhưng ở mức nhẹ nhàng hơn ở Trung Hoa rất nhiều. Nếu ảnh hưởng của văn hóa Khổng Mạnh c̣n t́m thấy trong cách cư xử “chồng chúa vợ tôi”, chê bai đàn bà, th́ đó cũng chỉ là việc nói lên cái mặc cảm tự tôn của đàn ông, một ẩn thể của tự ty.

Khôn ngoan cũng thể đàn bà
Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông.
Đàn ông rộng miệng th́ tài
Đàn bà rộng miệng điếc tai láng giềng.

Nói như vậy là nói lấy được, nói chầy nói cối, v́ chưa chắc đàn bà kém khôn hơn đàn ông, chưa chắc đàn ông rộng miệng có tài hơn đàn bà. Thực tế, người chồng Việt Nam rất nể vợ: “Lệnh ông không bằng cồng bà”, và nếu muốn mọi việc trong gia đ́nh được diễn tiến tốt đẹp, người chồng cần phải bàn bạc để có sự đồng thuận của người vợ: “Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn”. Người phụ nữ được kính trọng chính là v́ những đức tính của nàng

Hoa thơm ai chẳng nâng niu
Người thơm ai chẳng kính yêu mọi bề.

Nhiều khi người phụ nữ c̣n được tâng bốc quá đáng theo lối nói thậm xưng của ngôn ngữ Việt Nam.

Ba đồng một chục đàn ông
Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.
Lấy phải chồng đần, xỏ chân đằng mũi.
Vợ là ông th́ chồng là tớ.

Ngay trong thói tục đa thê, tức việc lấy nhiều vợ của những ông nhà giàu hay quyền quư, người vợ cả phải được hỏi ư kiến và chính bà sẽ đứng ra cưới vợ bé cho chồng. Nếu bà không có con trai, bà sẽ tự động kiếm cho chồng một cô vợ nhỏ, nhiều khi không cần hỏi ư chồng, với mục đích giúp chồng có tí con trai nối dơi, khỏi mang tội bất hiếu. Con của vợ nhỏ phải gọi bà cả là mẹ và chỉ được kêu mẹ ruột của ḿnh là d́. Nếu ông chồng có của và háo sắc, bà cũng sẵn sàng cho ông cưới thêm vài bà vợ hay nàng hầu nữa với điều kiện bà phải được góp ư trong việc chọn lựa và sẽ chỉ huy, phân phối công việc nhà cho các bà vợ nhỏ. Bà sẽ là người có nhiều quyền uy trong gia đ́nh. Ngay ông chồng cũng phải nể và t́m cách vuốt ve bà.

Mới yêu th́ cũ cũng yêu
Mới có mỹ miều, cũ có công lênh.

Đa số những thiếu nữ chịu đi làm vợ hai, vợ ba hay nàng hầu đều thuộc thành phần nghèo, cha mẹ cho lấy nhà giàu để được ăn trắng mặc trơn, nhất là lại có một món tiền để đền ơn và giúp cha mẹ đỡ túng quẫn. V́ vậy, những người này thường bị bà cả khai thác đến nơi đến chốn kiểu “mua mâm th́ đâm cho thủng”.

Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy đi cày chị chẳng kể công
Tối tối chị giữ lấy chồng
Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài
Sáng sáng chị gọi: Ớ hai!
Trở dậy nấu cám, thái khoai, băm bèo.
V́ chưng bác mẹ tôi nghèo
Cho nên tôi phải băm bèo, thái khoai.

Về phía ông chồng, tuy được lấy nhiều vợ, nhưng phải biết cư xử sao cho khéo để uy quyền và tự ái của bà cả không bị xúc phạm, để quyền lợi của các bà bé không bị thiệt tḥi. Như thế nhà cửa mới êm ấm và “chị em” mới giữ được ḥa khí trong gia đ́nh.

Ngoảnh mặt sang Tề e Sở giận
Quay đầu về Sở sợ Tần ghen.
Năm con năm nhớ, mười vợ mười thương.
Trồng trầu th́ phải khai mương
Làm trai hai vợ phải thương cho đều.

Nếu ông chồng không khéo léo, không biết giữ cho trong ấm ngoài êm, chính ông sẽ trở thành nạn nhân của t́nh trạng đa thê.

Ba vợ, bảy nàng hầu, đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng chổi.

Xem vậy, làm chồng nhiều bà một lúc không biết sung sướng ở chỗ nào nhưng cũng có nhiều điều cực tấm thân. Tuy thế, ông nào có điều kiện vẫn hăm hở đi vào con đường này, trước là để khoe giàu, khoe sang, khoe phúc đức: “Cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con”, sau là v́ bản tính của đàn ông vốn tham lam.

Sông bao nhiêu nước cũng vừa
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng ḷng.
Đàn ông một trăm lá gan
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Trong khi người đàn ông “có quyền hư” như vậy th́ người đàn bà vẫn một ḷng một dạ trung thành với chồng.Đó cũng là một lư do quan trọng khiến người vợ được tôn quư v́ vẫn giữ ḷng chung thủy, dù phải chấp nhận hi sinh và thiệt tḥi. May thay cảnh chồng chung vợ chạ chỉ xảy ra nơi số ít những người giàu có no cơm rửng mỡ. Đối với những người lam lũ phải chạy ăn từng bữa, nuôi được một vợ và bầy con đă quá cực nhọc, đâu c̣n dám nghĩ tới điều ǵ khác. Tục đa thê trước đây được công khai chấp nhận trong xă hội Việt Nam. Nó chỉ chính thức bị luật pháp cấm đoán vào đầu thập niên 1960 dưới thời tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Tuy nhiên những trường hợp đa thê lén lút vẫn c̣n tồn tại. Ngay tại Hoa Kỳ, luật cấm đa thê chỉ được ban hành năm 1970, đặc biệt nhắm vào những ông theo đạo Mormon ở tiểu bang Utah. Dù vậy luật pháp vẫn nhắm mắt làm ngơ đối với những ông có nhiều bà nhưng không khai báo chính thức (7).

Địa vị của người phụ nữ Việt Nam tuy có thấp kém hơn so với nam giới nhưng vẫn cao hơn so với phụ nữ tại nhiều nước khác, đặc biệt với phụ nữ Trung Hoa. Theo Quốc Triều H́nh Luật đời vua Lê Thánh Tôn, chồng có quyền rẫy vợ và vợ cũng có quyền bỏ chồng, dĩ nhiên phải theo những điều luật rất khắt khe, không thể tùy tiện bỏ nhau. Ngoài quyền lợi được ấn định trong luật lệ, những người phụ nữ đoan trang, nhân từ đều được cả gia đ́nh lẫn xă hội quư trọng. Người mẹ, người bà luôn luôn là trung tâm điểm thương yêu và tôn kính của con cháu trong gia đ́nh. Có lẽ đây là ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ ngày xưa c̣n truyền lại. Các bậc nữ lưu đă để lại nhiều tấm gương sáng chói để con cháu đời sau soi chung: những Âu Cơ, Tiên Dung của huyền thoại, những Liễu Hạnh Công Chúa, Bà Chúa Kho, Bà Chúa Sứ, Bà Đen của tín ngưỡng thần tiên, những Bà Trưng, Bà Triệu, Ỷ Lan Hoàng Hậu của lịch sử xa, rồi tới những Bùi Thị Xuân, Cô Giang, Cô Bắc của lịch sử gần. Anh thư sánh vai với anh hùng. Bởi thế người Việt Nam rất thắm thiết với “Nguyên lư Mẹ”, khởi đầu bằng huyền tích một mẹ trăm con, đă biến Phật Quan Âm là đàn ông bên Ấn Độ thành Phật Bà Quan Âm tại Việt Nam, đă tôn sùng Đức Mẹ Maria khi đạo Công Giáo du nhập nước ta.

5/ Tan vỡ nhẹ nhàng:

Không phải bất cứ cuộc hôn nhân nào cũng thành công và cặp vợ chồng nào cũng có thể sống với nhau trọn đời. Cuộc sống lứa đôi nào cũng có sóng gió, không nhiều th́ ít. Nếu biết “một câu nhịn là chín câu lành”, nếu biết lấy t́nh chung thủy và đức hi sinh để giải quyết những khó khăn th́ sóng gió sẽ qua đi. Trong trường hợp không thể hàn gắn th́ cuộc chia tay cũng rất nhẹ nhàng, nhiều khi c̣n mang vẻ ngậm ngùi, tiếc nuối, không thù oán chất chồng đến độ tàn sát nhau hay làm cho nhau tán gia bại sản như ta thấy nhiều cảnh thời nay.

V́ anh chẳng tại em đâu
Anh se chỉ mảnh, em khâu sao bền?
Trăng thanh nguyệt rạng mái đ́nh
Chén son chưa cạn sao t́nh đă quên?
Xưa kia nói nói thề thề
Bây giờ bẻ khóa trao ch́a cho ai?
Hay là người đă nghe ai
Thả chông đường nghĩa, rấp gai lối t́nh.
Đêm qua đêm lạnh đêm lùng
Đêm đắp áo ngắn, đêm chung áo dài
Bây giờ chàng đă nghe ai
Áo ngắn chẳng đắp, áo dài chẳng chung.

Trong ca dao, ta thấy người đàn ông chán vợ chỉ v́ vợ dại, không biết cư xử, quán xuyến việc nhà, không thấy nêu lư do rẫy vợ v́ vợ ngoại t́nh.

Thứ nhất vợ dại trong nhà
Thứ nh́ trâu chậm, thứ ba rựa cùn.
Tiền đồng mua được cá tươi
Mua rau mới hái, mua người đảm đang
Tiền trinh mua vội mua vàng
Mua phải rau héo, mua nàng ngẩn ngơ.
Ô rô tía, bạc hà cũng tía
Ngọn lang giâm, ngọn mía cũng giâm
Anh thấy em tốt mă anh lầm
Bây giờ đă rơ, vàng cầm cũng buông.

Lư do chính của việc vợ chán chồng là thấy chồng thua kém người, khiến ḿnh không thể nở mặt nở mày với thiên hạ

Chồng người đi ngược về xuôi
Chồng tôi ngồi bếp sờ đuôi con mèo.
Chồng người v́ nước xông pha
Chồng em ở nhà, gà đá găy chân.
Chồng người thổi sáo, thổi tiêu
Chồng em ngồi bếp húp riêu bỏng mồm.
Chồng em như cái bóng đèn
Treo đâu sáng đấy, biết ghen là ǵ.
Ngỡ rằng cây cả bóng cao
Thiếp lăn ḿnh vào phơi nắng cùng mưa.

Từ chỗ so sánh thấy chồng không bằng người, người vợ mới ước ao được sống với một người đàn ông khác xứng đáng với ḿnh hơn.

Thà rằng ăn nửa quả hồng
C̣n hơn ăn cả chùm sung chát lè.
Một đêm quân tử nằm kề
C̣n hơn thằng nhắng vỗ về quanh năm.
Một ngày tựa mạn thuyền rồng
C̣n hơn trọn kiếp ở trong thuyền chài.
Thà rằng làm lẽ thứ mười
C̣n hơn chính thất những người đần ngu.
Lấy chồng cho đáng tấm chồng
Bơ công trang điểm má hồng, răng đen.

Chê nhau đần ngu, không biết cách ăn ở, chê nhau không xứng đáng với ḿnh, đó là những lư do chính làm cho một số cặp vợ chồng chán nhau và đi đến tan vỡ. Ngoại t́nh ít khi là nguyên nhân, v́ người chồng nếu thương ai ngoài vợ vẫn có thể “xin phép” vợ cho cưới về ở chung, nếu đủ sức cưu mang. Người vợ ít khi dám từ chối và không thể coi đó là lư do để bỏ chồng. Về phía người vợ, việc ngoại t́nh rất khó xảy ra, trước là v́ lễ giáo bắt buộc “gái chính chuyên chỉ có một chồng”, sau là v́ ḍng tộc, làng xóm xét nét những người vợ trẻ rất kỹ lưỡng, khiến họ không dễ đi khuya về tắt. V́ vậy, việc “Ông ăn chả bà ăn nem, đứa ở có thèm mua thịt mà ăn” ít xảy ra trong xă hội Việt Nam xưa. Nói chung th́ những cuộc hôn nhân tan vỡ có cay đắng, nhưng xảy ra nhẹ nhàng, mang nhiều những giọt lệ thầm của tủi thân, luyến tiếc. Phần thiệt tḥi nhiều hơn thường về phía phụ nữ.

Vợ chồng đầu gối má kề
Ḷng nào mà bỏ mà về cho đang.
Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội đỡ khi đói ḷng.
Từ phen ra tới giang tân
Sớm theo dặm tuyết, đêm lần ngàn mưa
Tiếc công anh chứa nước đan lờ
Để cho con cá vượt bờ nó đi.

Qua văn chương b́nh dân, ta thấy t́nh vợ chồng trong nếp sống Việt Nam có đặc tính chung thủy, hi sinh, đồng lao cộng tác. Vợ chồng ăn ở với nhau có t́nh có nghĩa. Với thời gian và bổn phận, t́nh có thể bị xơ cứng hay hao ṃn, nhưng nghĩa vẫn phải tồn tại măi măi. Nghĩa là ḷng biết ơn nhau về những ngọt bùi cùng chia sẻ, là những kỷ niệm của thuở hàn vi, của con sống con chết, của những thành công cũng như những thất bại, của những ngày gian truân cũng như những giờ phút vinh quang. V́ vậy, có những cặp vợ chồng Việt Nam, tuy t́nh đă nhạt, họ vẫn không bỏ nhau, vẫn tiếp tục sống với nhau v́ nghĩa.

Một ngày nên nghĩa, chuyến đ̣ nên quen.
Tay bưng chén muối, đĩa gừng
Gừng cay, muối mặn, ta đừng quên nhau.


CHÚ THÍCH:

(7) Theo Desmond MORRIS, Human Sexes, các tr. 105, 108. St. Martin's Press. New York 1997.