PDA

View Full Version : Chinh Phụ Ngâm



Rồng Nhí
03-08-2008, 12:14 AM
Tác Giả Và Tác Phẩm



Tác Giả

Chinh Phụ Ngâm nguyên văn chữ Hán do Đặng Trần Côn sáng tác. Sau đó bà Đoàn Thị Điểm đem diễn Nôm điệu song thất lục bát.

Đặng Trần Côn: Người làng Nhân Mục, huyện Thanh Tŕ, tỉnh Hà Đông. Ông sinh đời Lê Dụ Tông, trong buổi Trịnh Côn xưng chúa, cầm quyền. Vào đầu niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) đời Hậu Lê, gặp buổi binh cách, lính thú đi chinh chiến nhiều nơi, gây nên bao cảnh gia đ́nh ly biệt, Đặng Trần Côn cảm xúc làm bài Chinh Phụ Ngâm, theo thể thơ xưa, âm điệu thanh tao và lâm ly thể hiện nỗi ḷng người chinh phụ nơi chốn cô pḥng.

Bà Đoàn Thị Điểm: Người làng Hiếu Phạm, huyện Văn Giàng, tỉnh Bắc Ninh, em gái ông Giám sinh Đoàn Luân. Bà rất thông minh, năm lên sáu tuổi đă làu thông Tứ Thư Ngũ Kinh. Bà có soạn tập Tục Truyền Kỳ và diễn Nôm bài Chinh Phụ Ngâm này.

Tác Phẩm

Chinh Phụ Ngâm là một thể cách giáo huấn, lấy chinh phụ làm phần khách quan, lấy giáo huấn làm phần chủ quan để dạy kẻ mày râu khăn yếm, lấy nghĩa tu nhân xử thế cho xứng với phận sự làm người.

Trước hết dạy người ỡ đời có sinh phải có tử. Cái chết ai cũng phải có, nhưng chết hoặc nặng tày non cũng có khi nhẹ tựa lông hồng, mà đă là đấng nam nhi th́ thường giữ chí "tang bồng hồ thỉ". Lại dạy kẻ nữ nhi khi đă thành gia thất phải lo nội trợ tề gia, khi chồng đi chinh chiến, ở nhà phải lo nuôi già dạy trẻ, hiếu nghĩa trọn phần. Lời giáo huấn phận sự làm trai làm gái đều có ư nghĩa chính đáng, lời lẽ ôn ḥa.

Tác giả mượn người chinh phụ để viết bài Chinh Phụ Ngâm, trong đó có hai ư tưởng: Một là cảm xúc nỗi chinh chiến và biệt ly đă diễn nên nhiều đau khổ và mong được ḥa b́nh. Hai là phấn chí anh hùng, giục ḷng quyết thắng, giữ dạ trung kiên, đem ḷng hứa quốc.

Rồng Nhí
03-08-2008, 12:16 AM
Thiên Địa Phong Trần



1. Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thẳm tầng trên,
V́ ai gây dựng cho nên nỗi này.

5. Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín tầng gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh.
Nước thanh b́nh ba trăm năm cũ.

10. Áo nhung trao quan vũ từ đây.
Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng, niềm tây sá nào.
Đường giong ruổi lưng đeo cung tiễn,
Buổi tiễn đưa ḷng bận thê noa.

15. Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa pḥng.
Chàng tuổi trẻ vốn gịng hào kiệt,
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền mong tiến bệ rồng,

20. Thước gươm đă quyết chẳng dung giặc trời.
Chí làm trai dặm ngh́n da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
Giă nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

Rồng Nhí
03-08-2008, 12:19 AM
Quyến Luyến Lúc Chia Tay



25. Ngoài đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc c̣n non.
Đưa chàng ḷng dằng dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền.
Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,

30. Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.
Nhủ rồi nhủ lại cầm tay,
Bước đi một bước dây dây lại dừng.
Ḷng thiếp tựa bóng trăng theo dơi,
Dạ chàng xa t́m cơi Thiên San.

35. Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Săn Lâu Lan, rằng theo Giới Tử,
Tới Man Khê, bàn sự Phục Ba.
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,

40. Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà Lương chia rẽ đường này,
Bên đường, trông bóng cờ bay ngùi ngùi.

45. Quân trước đă gần ngoài doanh Liễu,
Kỵ sau c̣n khuất nẻo Tràng Dương.
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng.
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,

50. Hàng cờ bay trong bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nh́n rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chàng th́ đi cơi xa mưa gió,
Thiếp th́ về buồng cũ gối chăn.

55. Đoái trông theo đă cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm Dương chàng c̣n ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hăy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,

60. Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Ḷng chàng ư thiếp ai sầu hơn ai.

Rồng Nhí
03-08-2008, 12:21 AM
Lo Âu Cho Người Đi Chinh Chiến



65. Chàng từ đi vào nơi gió cát,
Đêm trăng này nghỉ mát phương nao.
Xưa nay chiến địa dường bao,
Nội không muôn dặm xiết bao dăi dầu.
Hơi gió lạnh, người rầu mặt dạn,

70. Ḍng nước sâu, ngựa nản chân bon.
Ôm yên gối trống đă chồn,
Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh.
Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,
Mai Hồ vào Thanh Hải ḍm qua.

75. H́nh khe, thế núi gần xa,
Dứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.
Sương đầu núi buổi chiều như giội,
Nước ḷng khe nẻo suối c̣n sâu.
Thương người áo giáp bấy lâu,

80. Ḷng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây.
Trên trướng gấm thấu hay chăng nhẽ,
Mặt chinh phu ai vẽ cho nên.
Tưởng chàng giong ruổi mấy niên,
Chẳng nơi hăn hải th́ miền Tiêu Quan.

85. Đă trắc trở đ̣i ngàn xà hổ,
Lại lạnh lùng những chỗ sương phong.
Lên cao trông thức mây lồng, (*)
Ḷng nào là chẳng động ḷng bi thương!
Chàng từ sang Đông Nam khơi nẻo,

90. Biết nay chàng tiến thảo nơi đâu.
Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.

Rồng Nhí
03-08-2008, 12:24 AM
Phận Trai Rong Ruổi Chiến Trường



Nức hơi mạnh, ơn dày từ trước,
Trải chốn nghèo, tuổi được bao nhiêu.

95. Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo,
Bến Ph́ gió thổi đ́u hiu mấy g̣.
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi,
Mặt chinh phu trăng dơi dơi soi.
Chinh phu tử sĩ mấy người,

100. Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn.
Dấu binh lửa, nước non như cũ,
Kẻ hành nhân qua đó chạnh thương.
Phận trai già ruổi chiến trường,
Chàng Siêu tóc đă điểm sương mới về.

105. Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ,
Ba thước gươm, một cỗ nhung yên.
Xông pha gió băi trăng ngàn,
Tên reo đầu ngựa, giáo dan mặt thành.
Áng công danh trăm đường rộn ră,

110. Những nhọc nhằn nào đă nghỉ ngơi.
Nỗi ḷng biết ngỏ cùng ai,
Thiếp trong cánh cửa, chàng ngoài chân mây.
Trong cửa này đă đành phận thiếp,
Ngoài mây kia há kiếp chàng vay.

115. Những mong cá nước sum vầy,
Nào ngờ đôi ngả nước mây cách vời.
Thiếp chẳng tưởng ra người chinh phụ,
Chàng há từng học lũ vương tôn.
Cớ sao cách trở nước non,

120. Khiến người thôi sớm th́ hôm những sầu.